NHẬN XÉT VỀ VIỆC NGƯỜI VIỆT NAM HỌC CHỮ HÁN VÀ CHỮ NÔM

NHẬN XÉT VỀ VIỆC NGƯỜI VIỆT NAM HỌC CHỮ HÁN VÀ CHỮ NÔM

Mien Cao
23/05/2018

Xin được giới thiệu cùng các bạn bài viết về Chữ Hán và chữ Nôm mà mọi người hay gọi là chữ Nho. Văn phong của tác giả.

(Bài này tôi chép nguyên văn từ sách "Làng Hành Thiện và các nhà nho Hành Thiện dưới triều Nguyễn" của cụ Đặng Hữu Thụ, xuất bản ở nước ngoài. Cụ Đặng Hữu Thụ sinh năm 1919 ở làng Hành Thiện, là cháu ngoại cụ Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng, họ hàng gần với Cố Tổng Bí thư Trường Chinh, đậu bằng Cử nhân Luật khoa tại Hà Nội, bằng Cao học Thâm cứu Luật và Luật khoa Tiến sĩ tại Paris, làm Thẩm phán. Chức vụ cuối cùng của Cụ trước ngày 30/4/1975 là Phó Chưởng lý Toà Thượng Thầm Sài Gòn. Bản sách này tôi được bác Pham Thuc giang, bạn vong niên người làng Hành Thiện sao chụp gửi cho).

Thời Hán học triều Nguyễn các sĩ tử chỉ được học chữ Nho tức chữ Hán, đọc các sách Hán văn để dự các kỳ thi. Các bài làm trong các kỳ thi hương, thi hội, thi đình đều thảo bằng chữ Nho. Chữ Nho còn được gọi là chữ Hán vì được truyền bá mạnh khắp địa phận Trung quốc và các nước lân cận dưới đời Hán (từ năm 202 trước Tây lịch đến năm 220 sau Tây lịch). Chữ Nho phát tích từ Trung quốc từ đời thượng cổ nhưng không phải văn tự riêng của người Trung quốc.

Đời thượng cổ Trung quốc chỉ gồm vùng đất đai thuộc lưu vực sông Hoàng Hà mà thô i. Các vùng đất đai ở ngoài lưu vực này đối với người Trung Quốc lúc bấy giờ đều là ngoại quốc. Trung Quốc càng ngày càng bành trướng lãnh thổ và người Trung Quốc đem văn hoá Trung Quốc truyền vào các đất đai mới sáp nhập vào lãnh thổ Trung Quốc. Nước Việt Nam đời Hán nội thuộc Trung Quốc nên chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc. Khí cụ để truyền bá văn hoá Trung Quốc là chữ Nho. Chữ Nho không chỉ được truyền bá sang cả các nước không thuộc Trung Quốc như Nhật Bản, Cao Ly, Mãn Châu.

Chữ Nho là một thứ chữ viết tượng hình và hội ý, chữ Nho đem vào nước nào thì được đọc theo thanh âm riêng của nước ấy gọi là tiếng Hán. Chữ vẫn là chữ chung mà đọc theo âm thanh nước nào thành ra lời riêng của nước ấy. Dân Trung Quốc, dân Cao Ly, dân Nhật Bản, dân Việt Nam cùng học chữ Nho nhưng dân mỗi nước phát âm chữ Nho một khác, cùng đọc một bài chữ Nho mà dân nước nọ không hiểu dân nước kia đọc gì. Ngay tại nội địa Trung Quốc, người Quảng Đông đọc chữ Nho khác âm thanh với người Phúc Kiến, người tỉnh này nói tiếng Hánngười tỉnh kia chẳng hiểu gì, hai người phải bút đàm tức là nói chuyện với nhau bằng chữ viết mới hiểu được nhau.

Chính quyền Trung Quốc buộc các công chức phải học tiếng quan thoại để giao thiệp với nhau và với chính quyền Trung ương. Tiếng quan thoại là tiếng Hán đọc theo lối riêng một miền mà chính quyền Trung Quốc lưaạ chọn. Hiện nay tiếng quan thoại là tiếng Bắc Kinh. Các công chức, các sinh viên tại Trung Hoa phải học tiếng này, học tiếng này không khác gì học một ngoại ngữ. Có thời kỳ tiếng quan thoại là tiếng Nam Kinh, có thời kỳ tiếng quan thoại là tiếng Trường An. Vậy tiếng quan thoại là tiếng chính quyền dùng và buộc các công chức phải dùng, các trường học cần phải dạy cho sinh viên và học sinh.

Hai chữ 文明 người Việt Nam đcọ là văn minh, người Nhật đọc là bun mei, người Quảng Đông đọc là men min, tiếng quan thoại đọc là wen ming.

Dân Việt Nam, dân Nhật Bản, dân Quảng Đông, người sử dụng quan thoại tức tiếng Bắc Kinh chỉ dùng chung nhau có hai cái hình文明, còn thanh âm thì khác nhau xa. Cũng vì người mình đọc chữ Nho, nói tiếng Hán theo thanh âm của mình nên các cụ ta khi trước gọi chữ Nho là chữ ta, coi Hán văn là quốc văn. Hán văn thông dụng tại nước nhà đến nỗi vợ khóc chồng làm văn tế bằng Hán văn, con đi xa biên thư về cho cha cũng dùng chữ Nho, trong các buổi tế lễ tại đình miếu đền chùa hay tại các tư gia mọi người đều sử dụng tiếng Hán để khấn vái hay xướng lễ.

Chữ Nho người mình viết giống người Trung Quốc nhưng đọc theo giọng mình, người mình nói tiếng Hán theo âm thanh của mình, người Trung Quốc không hiểu được, vậy các cụ nói chữ Nho là chữ ta không phải là không đúng.

Vì chữ Nho chỉ là tử văn, một thứ chữ không dùng để giao tiếp bằng lời nói được vì không coa âm thanh nhất định, chữ Nho chỉ dùng để luyện tập tri thức, để thấu hiểu văn chương triết lý, lịch sử của người xưa viết để lại và người đời nay viết ra mà thôi.

Có người bảo sao người Việt Nam không học chữ Việt Nam là chữ Nôm? Trước khi các vị cố đạo Thiên chúa giáo Âu châu đặt ra chữ quốc ngữ, người Việt Nam chưa có chữ riêng. Theo lịch sử, thì tổ tiên ta về đời nhà Trần cách đây bảy thế kỷ có đặt ra chữ Nôm để phiên âm tiếng Việt. Nhưng muốn đọc và viết được chữ Nôm phải thông thạo chữ Nho. Viết chữ Nôm lại không có quy tắc nhất định nên học và đọc chữ Nôm rất khó. Chữ Nôm có chữ viết giống chữ Nho, đồng nghĩa với chữ Nho và đọc giống chữ Nho như các chữ DÂN 民, TÀI 才, MỆNH 命. Có chữ Nôm đọc hơi khác âm chữ Nho một chút như chữ CUỘC là do chữ Nho CỤC 局 đọc chệch ra thành CUỘC, chữ Nho BỐC 卜 có nghĩa là bói toán đọc ra chữ Nôm thành BÓI, chữ NGOÃ 瓦 có nghĩa là viên ngói đọc ra chữ Nôm thành NGÓI, chữ TRẦM 沉 có nghĩa là chìm xuống đọc ra chữ Nôm thành chữ CHÌM.

Có khi cùng một chữ mà chữ Nho đọc khác, chữ Nôm đọc khác. Như chữ Nho KỶ 几 đọc ra Nôm thành GHẾ, chữ Nho DỊCH 役 có nghĩa là công việc đọc ra chữ Nôm thành VIỆC.

Có chữ Nôm âm giống với chữ Hán khác hẳn nghĩa nhưng cữ Hán này được dùng với một nghĩa mới như chữ Nôm MỘT có nghĩa là một con số là mmọt, hai lại viết giống chữ Hán MỘT 没, có nghĩa là mất đi, chữ QUA là chữ Nôm nói việc gì đã qua rồi, đã hết, viết giống chữ HánQUA 戈, là một thứ binh khí giống cái mác.

Có chữ Nôm viết như chữ Hán đọc hơi giống âm chữ Hán nhưng nghĩa khác hẳn như chữ Hán MAI 枚 là cây mai, đọc ra chữ Nôm thành MAY như may rủi.

Có chữ Nôm không gốc ở chữ Hán lại không đồng âm với một chữ Hán nào ên các cụ phải dùng hai chữ Hán ghép lại để viết: một chữ Hán diễn ý, một chữ Hán chỉ âm, như chữ Nôm ĐẾN được viết bằng hai chữ Nho CHÍ 至, có nghĩa là đến và chữ Nho ĐIỂN 典 đọc hơi giống chữ ĐẾN. Có người lại viết chữ ĐẾN bằng cách ghép chữ Nho CHÍ 至 chỉ ý và chữ Nho ĐÁN 旦 chỉ âm. Chữ Nôm NĂM (năm tháng) được viết bằng hai chữ Nho ghép lại là chữ NAM 南 chỉ âm và chữ NIÊN 年 chỉ nghĩa.

Về cách ghép chữ chữ thì vị trí của hai phần chỉ ý và chỉ âm không nhất định: khi thì phần chỉ ý ở bên trái như chữ ĐẾN 至典, khi thì phần chỉ ý ở bên phải như chữ NĂM 南年 , khi thì phần chỉ ý ở trên, phần chỉ âm ở dưới như chữ TRĂM

(Sưu tầm)

Pinterest