BÁT HƯƠNG - NHỮNG ĐIỀU KHÔNG THỂ KHÔNG BIẾT
Quan trọng nhất của bàn thờ là bát hương. Bát hương được ví như ngôi nhà để tổ tiên và các vị thánh thần đi về, giống như cửa ngõ của nhân gian và thế giới bên kia để giúp những người còn sống bày tỏ lòng thành kính, hiếu thảo với tổ tiên đã khuất đồng thời thể hiện ước vọng, mong muốn được phù hộ gặp nhiều may mắn, tốt đẹp, con cháu phát đạt, hạnh phúc. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà nhiều gia đình chưa hiểu đúng, hiểu hết về vật thờ rất linh thiêng này. Bài viết này, Đồ thờ Hải Mạnh (dothogiadinh.vn) xin chia sẻ những nội dung căn cốt nhất xung quanh vấn đề này với mong muốn giúp các gia đình bài trí không gian thờ cúng sao cho linh thiêng, đẹp và đúng với hồn cốt của tín ngưỡng truyền thống dân tộc.
Hình dáng, trang trí, chất liệu
Bát hương hình tròn tượng trưng cho Bàn Thái cực (theo quan niệm của Đạo giáo), có hoa văn trang trí hình song long trầu nguyệt, thường được làm phổ biến bằng gốm, đá và đồng - những chất liệu được người xưa quan niệm là có sức linh nhất định, sẽ hội tụ được sức mạnh thiêng liêng để ứng nghiệm cho những lời cầu xin. Do vậy, nhiều gia đình dù quyền quý, giàu có đến mấy cũng không thay đổi chất liệu của đồ thờ nói chung, bát hương nói riêng (hầu như không có bát hương bằng vàng, bạc,…) vì quan niệm chúng không thiêng. Tuy nhiên, xét về mặt phong thủy thì bát hương bằng gốm sứ có ý nghĩa nhiều hơn, giúp ban thờ hài hòa hơn bởi theo thuyết âm dương ngũ hành, bát hương bằng gốm thể hiện hành thổ, khi nén hương đốt lên sẽ có cả ba yếu tố: hỏa (phần đang cháy), mộc (phần thân hương) và thổ (phần chân hương cắm trong bát hương). Mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, sự chuyển hóa thể hiện ước vọng sinh sôi, phát triển.
Vị trí, số lượng, cách bài trí
Bát hương được đặt ở trung tâm bàn thờ, xếp trước bộ tam sự, ngũ sự hay thất sự. Theo dân gian, bát hương trên bàn thờ thường ứng với các số lẻ. Ở các gia đình người Việt thường là 3 bát hương để thờ Thổ công, ông bà tổ tiên và bà cô ông mãnh.
Ba bát hương này khi đứng từ ngoài nhìn vào thì: bà tổ, ông mãnh bên trái, Thổ công chính giữa và gia tiên bên phải, trong đó bát hương Thổ công bao giờ cũng to hơn và đặt ở vị trí cao hơn 2 bát kia.
Nhiều gia đình đặt quá nhiều bát hương trên ban thờ là không cần thiết và cũng không đúng, không hội tụ được sức mạnh tâm linh (bởi theo thời gian số người mất trong gia chủ tăng lên thì bàn thờ cỡ bao nhiêu cũng khó để bày cho đủ số bát hương).
Bốc bát hương
Vốn là vật vô tri nên chỉ sau khi thực hiện thủ tục bốc bát hương thì bát hương đó mới có tác dụng thờ cúng. Thực chất, đây là việc cung cấp cho bát hương một nguồn năng lượng ban đầu và sau này trong quá trình thờ cúng, năng lượng đó ngày một tăng trưởng khiến cho độ linh thiêng ngày càng cao giống như việc khai quang, điểm nhãn cho tượng mỗi khi đúc xong. Bát hương không được bốc đúng cách cũng giống như nhà không chủ, khi đó Thần, Phật, tổ tiên giáng lâm độ trì thì ma quỷ cũng chen chân theo để quấy phá gia chủ.
Để bốc bát hương, gia chủ phải nhờ thầy, có thể là thầy chùa (sư) hoặc pháp sư (người tu tại gia), nhưng tốt nhất là nhờ thầy chùa (sư) làm giúp tại chùa sau đó thỉnh về, vì hầu hết chỉ những người này mới đảm bảo chay tịnh và có đạo pháp phần âm để thỉnh đủ các chân linh thần, Phật, gia tiên về được.
Bát hương phải rửa nước muối, rượu gừng có pha chút nước hoa hay thả vào mấy cánh hoa hồng cho thơm để làm sạch rồi phơi khô (hoặc đem xông trầm hương), sau đó lót ở đáy một mảnh giấy tráng kim vàng (vừa để lót, vừa phòng các đồ yểm trong bát không bị cháy theo khi bát hương “hoá”).
Tiếp theo phải làm cốt bát hương. Cốt bát hương có 7 thứ báu (Thất bảo: thiếc vàng, thiếc bạc, thạch anh, ngọc , mã lão , xà cừ (ngọc trai) , san hô đỏ),... tối thiểu phải có 3 thứ: vàng, bạc, ngọc được bọc bởi 1 tờ giấy tráng kim dùng bút đỏ đã được làm phép chú bút, chú giấy, chú mực ghi một số chữ (do thầy ghi, chữ thiên do các vị Thánh ngự ghế viết). Trong bát hương còn có tiền âm (Ngũ Lộ Thần tài), tiền dương màu đỏ mệnh giá mang số 5 (sinh) được gấp thành các chiếc thuyền nhỏ xếp xung quanh khối cốt thất bảo. Cuối cùng, sau khi đổ đầy tro, thầy cúng sẽ đọc kinh hay chú mật tông, tiên gia để an vị bát hương.
Khi làm phép lần đầu, người bốc bát hương cắm cây chữ Thọ bằng đồng để thắp hương vòng, cắm 9 hay 3 cây nhang tùy bát của Phật hay các tầng khác. Lúc an vị cần đặt bát hương ngay ngắn, chính giữa bàn thờ sao cho mặt nguyệt (lưỡng nghi) nằm trên trục vuông góc với bàn thờ và theo hướng bàn thờ.
Chỉ khi hoàn thành các công đoạn này thì bát hương có đủ linh lực, thần, Phật, gia tiên mới giáng lâm, độ trì cho gia chủ.
Những điều lưu tâm
- Bát hương tối kỵ dùng màu vàng thờ gia tiên vì màu vàng là màu hoàng đế, chỉ dành thờ quân, thần hoặc các vị thời trước có tước vị trong hoàng tộc.
- Khi mua bát hương cần chọn loại không có chữ Hán viết ở thành.
- Không được dán giấy ghi rõ bát hương nào thờ Thần, bát nào thờ tổ tiên, bát nào thờ ai cụ thể, bởi như vậy là "phạm thượng" với bề trên: người trần, con cháu quy định cho chỗ đi, chỗ về cho thần linh và tiên tổ.
- Nước dùng để làm sạch bát hương phải đổ ra trước sân hay vẩy chung quanh nhà, không đổ xuống cống.
- Trong bát hương nên dùng tro sạch đốt từ rơm nếp (không dùng cát) và phải phủ đầy lòng bát hương.
- Mỗi khi sắp xếp lại ban thờ, phải khấn vái, xin phép và chỉ được di chuyển bình hoa, chén nước, đỉnh đồng, đèn,... không được xê dịch bát hương.
- Khi chân nhang quá nhiều cần rút bớt, để lại 5 chân. Những chân nhang đã nhổ thì đem đốt rồi thả tro xuống sông suối.
- Bát nhang bỏ đi (ví dụ bát nhang của ban thờ vong) cần thả xuống sông suối (tốt nhất là đặt trên miếng xốp nổi), tránh vất nơi uế tạp.
- Mỗi khi cầu cúng, không nên thắp quá nhiều hương (thường từ 3 đến 5 nén). Nếu thắp quá nhiều hương sẽ mở đường cho thập loại chúng sinh đến, tạo ra sự lộn xộn, phiền toái cho thần, tổ tiên mình thỉnh cầu. Khi thắp, phải để hương cháy đều, dùng tay phẩy nhẹ cho tắt lửa, không thổi. Khi cắm hương, cần cắm cho ngay ngắn, đồng thờ không cắm chồng các chân hương lên nhau nhằm tránh tạo ra những lớp thô (cũ) và thanh (mới) và phòng bốc hoả.
- Nếu đang cầu cúng mà hương tắt thì cứ để thế mà châm lửa tiếp, không nhổ lên đốt lại, bởi khi nhổ lên cắm lại thành hương thừa, mất gốc, cầu cúng mất linh nghiệm./.
