CÁCH XƯNG HÔ TÊN CỦA NGƯỜI VIỆT
CÁCH XƯNG HÔ TÊN CỦA NGƯỜI VIỆT
Cách xưng hô tên của người Việt thay đổi theo các tầng lớp trong xã hội, ngoài ra còn thay đổi theo tuổi tác, giới tính... Ngày nay, người Việt dùng tên để xưng hô, giao tiếp chứ không dùng họ. Những năm gần đây, đặc biệt là trên truyền hình và phim ảnh, người Việt dùng thêm một chữ lót và tên để xưng hô. Ví dụ: Tôi là Vân Anh, tôi là Quang Minh…
1. Đối với vua chúa
1.1. Đối với vua
- Gọi bằng họ và miếu hiệu: Lý Thái Tổ, Lê Thánh Tông...
- Gọi bằng niên hiệu: Gia Long, Tự Đức hoặc thêm từ "vua" vào trước trở thành: vua Gia Long, vua Tự Đức...
1.2. Đối với chúa
- Gọi bằng tên tước và tên chính: Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, Định Vương Nguyễn Phúc Thuần...
- Dùng từ "chúa" và tên thường gọi: Chúa Sãi, Chúa Hiền...
- Gọi bằng tên chính thức: Nguyễn Hoàng, Trịnh Sâm...
2. Đối với nho sĩ, quan lại
2.1. Với nho sĩ
- Dùng tự, hiệu và thêm từ "tiên sinh": Băng Hồ tiên sinh (Trần Nguyên Đán); Tố Như tiên sinh (Nguyễn Du)...
- Dùng biệt hiệu: La Sơn Phu tử (Nguyễn Thiếp)
- Dùng tên chức vụ và tên quê: Uy Viễn tướng công (Nguyễn Công Trứ)
- Dùng từ chỉ học vị và tên quê: Trạng Bùng (Phùng Khắc Hoan), Tam nguyên Yên Đổ (Nguyễn Khuyến)...
- Dùng từ chỉ học vị và phẩm hàm: Trạng Trình (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
- Dùng từ chỉ học vị và tên chính: Nghè Tân, Tú Xương, Đồ Chiểu, Thủ khoa Huân...
- Dùng chức vụ và nơi làm việc của chồng: Bà Huyện Thanh Quan.
2.2. Đối với quan lại
- Dùng chức vụ và tên chính: Nghị Quế, Hương Điểm, Xã Tài, Đề Thám...
- Dùng phẩm hàm và tên chính: Thiên hộ Dương, Bá Nọn...
- Chỉ gọi chức vụ: Binh, Cai, Đội, Lý (lý trưởng), Bạ (chưởng bạ), Tham (tham tá)...
- Chỉ gọi phẩm hàm: Ôn Như Hầu, Thiếu (thái tử thiếu bảo), Hường (hồng lô tự khanh), Cửu (cửu phẩm), Bát (bát phẩm)...
3. Đối với lãnh tụ, trí thức
3.1. Đối với lãnh tụ
- Dùng từ xưng hô và họ: Cụ Phan (Phan Bội Châu); Cụ Huỳnh (Huỳnh Thúc Kháng)..., trong một vài trường hợp, từ xưng hô lại trở thành danh từ riêng như từ "Bác": Bác Hồ; Bác Tôn...
- Dùng họ và phẩm hàm: Trần Hưng Đạo
- Dùng họ kết hợp chức vụ: Hồ Chủ tịch, Ngô Tổng thống (Ngô Đình Diệm)...
- Cách phổ biến hơn là dùng danh từ chỉ chức vụ hoặc quân hàm và họ tên đầy đủ: Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp...
3.2. Đối với trí thức
- Dùng học hàm, học vị và tên chính: Giáo sư Cẩn, Tiến sĩ Dương, Kỹ sư Hòa, Bác sĩ Long...
- Dùng học hàm, học vị và họ tên: Phó giáo sư Nguyễn Nguyên Trứ, Giáo sư Tiến sĩ Trần Kim Thạch...
- Có khi dùng họ và từ "quân" để qoi: Lê quân, Phạm quân...
- Một số phụ nữ được gọi theo tên chồng: Bà Ngô Bá Thành, Bà Nguyễn Phước Đại...
4. Đối với văn nghệ sĩ
- Dùng tự, hiệu hoặc bút danh và họ tên đầy đủ: Ưu Thiên Bùi Kỷ, Thuần Phong Ngô Văn Phát...
- Đơn giản chỉ dùng bút danh, nghệ danh: Đông Hồ, Út Trà Ôn...
- Dùng từ chỉ ngành nghề và bút danh: Nhà thơ Tố Hữu, nghệ sĩ Kim Cương, ca sĩ Hồng Vân...
- Dùng họ và tự, hiệu: Nguyễn Tố Như, Lê Thọ Xuân...
5. Đối với tu sĩ
5.1. Phật giáo
Dùng từ chỉ chức vụ và pháp tự, pháp hiệu: Ni sư Trí Hải, Đại đức Thích Tuệ Nghiêm, Thượng toạ Thích Tuệ Sĩ, Hòa thượng Thích Đức Nhuận...
5.2. Công giáo
- Dùng từ chỉ chức vụ và họ tên thật: Linh mục Võ Thành Trinh, Hồng y Trịnh Văn Căn...
- Dùng từ chỉ chức vụ, tên thánh và họ tên thật: Tổng giám mục Phao-lô Nguyễn Văn Bình.
- Đơn giản dùng từ chỉ chức vụ và tên chính: Cha Trinh, Đức Cha Bình...
5.3. Đạo Cao Đài
Tên vị chức sắc Cao Đài Giáo có dạng: Tên phái + thế danh + tịch đạo. Ví dụ một vị chức sắc có phẩm trật Giáo Hữu, thế danh là Nguyễn Trung Chính, thuộc phái Phật, được phong trong đời Giáo Tông thứ nhất, sẽ được gọi: Giáo hữu Thái Chính Thanh (Thái: tên phái Phật, Chính: tên riêng, Thanh: tên tịch đạo trong bài thơ). Một nữ tín đồ có phẩm trật Lễ Sanh, thế danh là Huỳnh Thị Lan, thuộc phái Thánh, được phong chức trong đời vị Giáo Tông thứ hai, sẽ được gọi là Lễ Sanh Ngọc Lan Tâm (Ngọc: tên phái Thánh, Lan: tên riêng, Tâm: tên tịch đạo trong một bài thơ).

6. Xưng hô trong dân thường
6.1. Gọi theo họ tên
- Dùng tên chính: Ngọc, Lan, Mai, Hoa... áp dụng khi người lớn gọi người nhỏ, giữa bạn bè còn trẻ, hay gọi người mình khinh ghét.
- Dùng tên chính sau một từ xưng hô: anh Hoa, chị Mai, cô Thắm, cụ Tâm hay thằng Minh, con Liễu...
- Dùng tên chính và thêm những từ như: đồng chí Long, thủ trưởng Hào...
- Dùng đầy đủ họ tên trong văn viết để gọi những nhân vật lịch sử: Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân...
6.2. Gọi theo ngôi thứ
- Dùng từ xưng hô và thứ bậc (trong gia đình của người mang tên): anh Cả, thằng Hai, chị Ba, con Bảy, dượng Mười... như Cả Đỏ (Nguyễn Lương Bằng), Bảy Cường (Phạm Hùng), Sáu Dân (Võ Văn Kiệt). Ở miền Nam, con trưởng gọi là "Hai", con thứ nhì gọi là "Ba"...
- Dùng thứ bậc và tên chính: Ba Khiết, Tư Hồng...
- Dùng từ xưng hô, thứ bậc và tên chính: anh Tư Rô, bác Cả Hồng...
6.3. Gọi kèm tên vợ hoặc chồng
- Út Tịch là tên của bà Nguyễn Thị Út, có chồng tên là Tịch.
- Vợ chồng xưng hô trực tiếp (mức độ phổ biến tăng dần): anh-em, mình-tôi, ông xã-bà xã, mẹ nó-bố nó...
6.4. Gọi theo tên chồng
Đối với một số vùng nông thôn ở miền Bắc, người ta thường gọi vợ một người nào đó theo tên của chồng. Chẳng hạn chồng là A vợ là B nhưng người ta gọi B là "bà A". Cách gọi này thông dụng đến nỗi những ai con cháu của bà B không biết được tên thật của bà B. Tuy nhiên, phụ nữ Việt Nam khi kết hôn vẫn giữ và dùng tên họ riêng theo khai sinh mà không đổi theo tên họ nhà người chồng.
6.5. Gọi theo tên con
- Ở miền Nam Việt Nam người ta thường gọi gắn tên con đầu lòng theo kiểu: "danh từ xưng hô+từ chỉ thứ bậc+tên chính con đầu lòng": chị Hai Tùng, anh Ba Hiển...
- Ở nhiều vùng thuộc tỉnh Thanh Hoá, những người đã lên chức ông bà (hoặc đã già) cũng được gọi gắn tên con đầu lòng nhưng không kèm từ chỉ thứ bậc. Ví dụ ông Dương, bà Dương là tên thường gọi của cha và mẹ anh Dương. Nhưng khi đã qua đời thì không được gọi theo tên con nữa mà gọi theo tên khai sinh, còn gọi là "tên cúng cơm".
- Ở nông thôn miền Bắc Việt Nam cha, mẹ thường gọi nhau theo tên hoặc tên tục của con: bố thằng A, mẹ cái B, bố cái Đĩ, bu con Cún... Cách gọi này không áp dụng đối con cái hoặc với người ngoài gia đình.
6.6. Xưng hô khuyết danh
Trong giao tiếp hằng ngày, nếu không cần thiết, người Việt thường xưng hô khuyết danh với nhau (chỉ gồm đại từ nhân xưng, không tên gọi). Trong nhiều ngôn ngữ khác, tiếng Anh chẳng hạn, đại từ nhân xưng không minh định vị trí và địa vị của từng cá nhân, nhưng áp dụng trong mọi trường hợp. Nhưng Tiếng Việt là một trong những ngôn ngữ có lượng đại từ nhân xưng vô cùng phong phú, làm cho cách xưng hô này trở nên phức tạp. Tuy nhiên, điều này lại đóng góp tích cực vào việc duy trì đạo đức, trật tự của gia đình và xã hội, là đặc trưng riêng cho ngôn ngữ. Ví dụ: người mẹ nói chuyện với con gái mình thì tự xưng là mẹ, má, u hay một từ tương tự nào đó và gọi con gái mình bằng con... Người nói và người nghe đều xác định được vị trí đích thực của mình, không thể lầm lẫn được./.
