​CHỮ NHẪN – MẤY SUY NGHĨ

​CHỮ NHẪN – MẤY SUY NGHĨ

Thưởng Nguyễn
14/06/2018

CHỮ NHẪN – MẤY SUY NGHĨ

"Nhẫn" là đặc trưng của nền văn hóa Á Đông, là quy tắc ứng xử từ gia đình đến xã hội của người Việt Nam. Chữ Nhẫn có một ý nghĩa, vị trí rất quan trọng trong nếp sống của người Việt.

Chữ Nhẫn 忍, trước kia gồm có bộ Tâm (心) và bộ Nhận (刃) cấu thành. Chữ Nhận 刃 nằm trong chữ Tâm 心 gọi là Nhẫn. Điều này mang hàm ý trong cuộc sống hằng ngày, tâm con người thường hay tiếp xúc nhiều thứ nguy hại như tham, sân, si, ngã mạn, ganh tỵ nên luôn phải thức tỉnh những thứ làm nguy hại đến tâm. Nhẫn ở đây có nghĩa là nhịn.

Về sau này, chữ Nhẫn được viết gồm chữ Tâm 心, chữ Đao 刀 và bộ chủ. “Đao” nghĩa là con dao, là chỉ sự nguy hiểm. Bộ Chủ丶nằm trên bộ đao 刀, với hàm nghĩa muốn Nhẫn thì phải làm chủ cái nguy hiểm. Cho nên, người ta nói rằng: Trong chữ Nhẫn có hình tượng một quả tim, một con dao và những giọt máu, sống phải biết nhẫn nhịn dù cho dao đâm vào tim chảy máu thì vẫn phải nhẫn nhịn thì cơ sự mới lành.

Xưa, Quách Tử Nghi, đời nhà Ðường khi còn nhỏ đang đi học, một hôm ông xem kinh Phật thấy câu “Hắc phong xuy châu phiêu nhập chi khổ hải” nghĩa là luồng gió đen thổi chiếc thuyền trôi vào trong biển khổ. Ông không hiểu ý câu ấy ra sao, bèn đến hỏi một hòa thượng. Vị hòa thượng thấy hỏi như vậy, thì thịnh nộ mắng ông Quách Tử Nghi rằng còn con nít biết gì mà dám hỏi những câu đó. Ông Quách Tử Nghi thấy vị hòa thượng trả lời như vậy thì nổi giận hầm hầm tím mặt. Lúc ấy vị hòa thượng bèn ung dung cười mà cắt nghĩa cho ông Quách Tử Nghi biết rằng: “Sự thịnh nộ của công tử từ nãy đến giờ tức là luồng gió đen thổi chiếc thuyền trôi vào biển khổ đó…”. Quách Tử Nghi hồi tâm tỉnh ngộ, bèn chắp tay tạ ơn vị hòa thượng, đã dùng một cách gián tiếp mà chỉ giáo.


 

Về chữ Nhẫn, Ðức Khổng Phu Tử dạy rằng: “Bá hạnh chi bổn nhẫn chi vi thượng” (Trăm nết chung gốc chỉ có chữ Nhẫn là cao thượng hơn hết), bởi:


“Thiên Tử nhẫn chi quốc vô hại,
Chư hầu nhẫn chi thành kỳ đại.
Quan lại nhẫn chi tấn kỳ vị,
Huynh đệ nhẫn chi gia phú quý,
Phu phụ nhẫn chi chung kỳ thế,
Bằng hữu nhẫn chi danh bất phế,
Tự thân nhẫn chi vô họa hoạn.”

(Làm Vua mà biết nhịn thì trong nước không có điều tai hại;
Bậc chư hầu mà biết nhịn thì nên nghiệp lớn;
Bậc quan lại mà biết nhịn thì phẩm vị đặng cao thăng;
Anh em biết nhịn với nhau thì nhà cửa đặng giàu sang;
Chồng vợ biết nhịn thì niềm ân ái mới đặng trọn đời;
Bè bạn biết nhịn thì danh nghĩa chẳng hư,
Thân của mình mà biết nhịn chẳng lo tai họa)


Nếu “Bất nhẫn hà như”, chẳng nhịn thì:
Thiên Tử bất nhẫn quốc khống hư
Chư hầu bất nhẫn tán kỳ xu
Quan lại bất nhẫn hình phạt tru
Huynh đệ bất nhẫn cát phân cư
Phu phụ bất nhẫn tình ý sơ
Tự thân bất nhẫn hoạn bất trừ.”

(Làm Vua mà chẳng nhịn thì nước phải trống không.
Bậc chư hầu chẳng nhịn thì hư bại thân mình.
Bậc quan lại không nhịn thì phải chịu hình phạt.
Anh em chẳng biết nhịn nhau, thì chia của cắt nhà phân ly thủ túc.
Chồng vợ chẳng nhịn thì tình nghĩa phai nhạt.
Còn bản thân mình mà chẳng biết nhịn thì mọi việc hoạn họa chẳng dứt)

Chữ “Nhẫn”, theo đạo Phật, là một trong sáu phương pháp tu gọi (Lục độ) của Bồ tát gồm: Bố thí, Trì giới, Tinh tấn, Nhẫn nhục, Thiền định và Trí tuệ. Các kinh sách của Phật đều dạy nhân sinh lấy chữ Nhẫn làm đầu. Trong Kinh Hoa Nghiêm có câu rằng: “Nhứt niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai” (Một phen cơn giận nổi lên thì muôn ngàn nghiệp chướng nảy sinh).

Suy cho cùng, người biết nhẫn nhục chính là người mạnh nhất. Nhưng, Nhẫn không phải là sự cam chịu tiêu cực, không phải là gồng mình cam chịu ôm nhục, là luồn cúi để đạt được mục đích. Chữ Nhẫn ngoài sự chịu đựng, điềm tĩnh còn cần phải có sự tha thứ, phải có từ – bi – hỷ – xả. Nhẫn là độ lượng, khoan dung, nhận đúng bản chất mà kiên tâm nhẫn nại… Nhẫn, chính là thể hiện bản lĩnh của con người. “Dĩ nhẫn vi lực” - Lấy đức nhẫn làm sức mạnh là như vậy và mới đúng bản chất của chữ Nhẫn./.

Pinterest