​CHÙA VÀ CÁC TÊN GỌI KHÁC

​CHÙA VÀ CÁC TÊN GỌI KHÁC

Thưởng Nguyễn
25/05/2018

CHÙA VÀ CÁC TÊN GỌI KHÁC

Chùa từ lâu đã hiện hữu và gắn bó thiết thân, trở thành một phần không thể tách rời trong cộng đồng làng xã Việt Nam. Về tên gọi, bên cạnh cái tên thuần Việt trên thì chùa còn được gọi với các tên gốc Hán khác như “Tự”, “Già lam” với những ý nghĩa khác nhau.

1. Tự

Tự (寺): ban đầu nguyên nghĩa không phải là chùa mà là từ để chỉ cơ quan làm việc cụ thể của bộ máy chính quyền phong kiến. Sách “Hán thư” có chép: “Phàm phủ đình sở tại giai vị chi tự” (nói chung nơi làm việc của phủ đình đều gọi là Tự), còn trong “Khang Hy tự điển” ghi rõ: “Hán dĩ Thái thường, Quang lộc, Huân vệ úy, Thái bộc, Đình úy, Đại hồng lô, Tông chính, Tư nông, Thiếu phủ vi cửu khanh. Hậu Ngụy dĩ lai danh tuy nhưng cửu nhi sở lị chi cục vị chi Tự” (đời Hán lấy Thái thường, Quang lộc, Huân vệ úy, Thái bộc, Đình úy, Đại hồng lô, Tông chính, Tư nông, Thiếu phủ làm Cửu khanh. Ngụy trở về sau tuy vẫn để như cũ nhưng các sở cục thì gọi là Tự).

Sau này, chữ “Tự” được dùng đứng sau làm thành tố chính (trung tâm ngữ) để kết hợp với một từ định danh nào đó (định ngữ) tạo thành một cụm danh từ nêu tên gọi một ngôi chùa cụ thể, ví dụ như Trấn Quốc tự, Kim Liên tự, Vĩnh Nghiêm Tự… Như vậy, ai cũng hiểu, “Tự” nghĩa là chùa.

Từ chỗ dùng để chỉ một sở cục cụ thể, “Tự” được chuyển hẳn sang nghĩa là chùa là bởi nguyên nhân lịch sử, đánh dấu mốc đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Hán Minh Đế Lưu Trang (25-75) là vị vua đầu tiên thừa nhận địa vị của Phật giáo ở Trung Quốc. Tương truyền nhà vua nằm mộng thấy “người vàng” bay qua sân điện, bèn sai sứ giả 12 người do Lang Trung Thái Âm dẫn đầu sang Tây Trúc cầu tìm đạo Phật. Đó là sự kiện năm Vĩnh Bình 7 (năm 64). Ba năm sau, sứ giả về với hai tăng nhân người Ấn Độ cùng rất nhiều kinh sách và tượng phật được thồ trên lưng ngựa trắng. Lúc này, triều đình chưa chuẩn bị kịp chỗ ở riêng cho đoàn nên bố trí tạm trong Hồng Lô tự (một cơ quan trong Cửu khanh). Sau đó, nhà vua mới cho xây dựng cái mà chúng ta gọi là chùa để thờ Phật và các tăng nhân tu tập, gọi là Bạch Mã tự (vì kinh và tượng Phật được thồ về trên lưng ngựa trắng). Đây là ngôi chùa Phật giáo đầu tiên của Trung Quốc.


Trấn Quốc tự (Hà Nội)

2. Già lam

Già lam (伽藍) cũng là tên gọi của ngôi chùa. Đây không phải là tên có nguồn gốc biến đổi như Tự. Già lam là tên gọi tắt của Tăng già lam ma (Sangharama). Tăng già là một nhóm tăng nhân đi hoằng pháp, thường từ bốn người trở lên. Tăng già lam ma là nơi ở của các tăng nhân để tu hành, sau chỉ chung kiến trúc ngôi chùa. Như vậy, già lam ở đây nghĩa như chùa. Tuy nhiên, có tài liệu, như trong “An Nam phong tục sách” - tài liệu bằng chữ Hán của Tuần phủ Hà Nam - Hiệp biện đại học sĩ Mai Viên Đoàn Triển (1854- 1919) thì Già lam chỉ là chùa nhỏ, không có quy mô tổ chức và kiến trúc như chùa.

3. Chùa

Chùa là tên gọi thuần Việt. Về nguồn gốc, trong chữ Nôm, chữ Chùa được ghi bằng Trù. Theo ngữ âm, lịch sử đã chứng minh: /ch/ là âm trước của /tr/ khi người Việt đọc chữ Hán. Chùa là âm tiền Hán Việt của Trù. Nó nằm trong hệ thống ch > tr, như chén > trản, chém > trảm, chọn > trạch, chèo > trạo, chầy > trì, chay > trai, chứa > trữ... Trù có nghĩa là bếp, nơi ấm áp, yên bình trong mỗi gia đình. Suy rộng ra xã hội, nơi ấm áp, yên bình nhất chính là ngôi chùa. Chùa không chỉ là nơi thờ Phật, chốn linh thiêng, thanh tịnh mà còn là nơi để người giàu san sẻ, người khó tựa nương, là nơi con người được thỏa nguyện về cả vật chất lẫn tinh thần. Đó có lẽ là ý nghĩa cao đẹp trong cách gọi thuần Việt này.

Chùa Bái Đính (Ninh Bình)

Bên cạnh một số tên gọi phổ như trên, cũng còn nhiều từ khác dùng chỉ ngôi chùa, như: Phật sát, Phật điện, Phật đường, Phật khám, Phật sát, Phật tự, Tăng phòng, Tăng viện, Tăng xá, Thiền già, Thiền trai, Thiền xá, Tự môn, Tự quán, Tự viện… Tất cả các từ trên đều có thể dịch là Chùa. Trong các từ trên, yếu tố đầu: Phật, Tăng, Thiền là thuật ngữ Phật giáo; yếu tố sau là những kiến trúc nhà khác nhau trong tiếng Hán. Nó góp phần định danh tường minh hơn cho ngôi chùa cụ thể./.

Pinterest