Chuông thờ - Những điều không phải ai cũng biết
Chuông thờ - Những điều không phải ai cũng biết
Chuông là một loại hình đồ thờ, một di vật quý giá, mang ý nghĩa rất sâu xa về lẽ đạo.
Theo như Kinh “Tăng Nhất A Hàm” thì mỗi khi nghe tiếng chuông chùa ngân lên thì những hình phạt trong các âm đạo tạm thời dừng nghỉ, chúng sinh nào đang chịu những hình phạt ấy cũng được tạm thời yên vui. Cũng có thuyết chép rằng, ngày xưa, khi Đức Phật Cầu Lưu Tôn ở tại viện Tu Đà La, xứ Càn Trúc, đã tạo một quả chuông bằng đá xanh, thường đánh vào lúc mặt trời vừa mọc; khi tiếng chuông ấy ngân lên thì trong ánh sáng mặt trời có các vị hóa Phật hiện ra, diễn nói 12 bộ kinh, làm cho người nghe chứng được thánh quả không kể xiết. Như vậy, chuông, mỗi khi ngân lên, giống như nhắc nhở cơn vô thường sẽ rất nhanh chóng đến với mọi người, mỗi khi nghe tiếng chuông, lòng cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản như đứng bên bờ của sự giác ngộ.
Trong tín ngưỡng của người Việt, chuông thường được sử dụng tại các ngôi chùa của đạo Phật. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nó cũng đã xuất hiện cả ở các ngôi quán đạo Lão, và gần đây còn xuất hiện cả ở đền và phủ Mẫu. Quả chuông sớm nhất trên đất Việt, hiện biết được là của chùa Thanh Mai (ven tả ngạn sông Đáy – Thanh Oai – Hà Tây, nay là Hà Nội). Chuông có niên đại cụ thể được làm vào năm 798.
Bố cục của chuông Việt nói chung tuy mỗi thời có một dáng khác nhau, song thường thống nhất với ba phần: phần trên là quai chuông với đôi rồng chụm đuôi chạy ra, ngóc đầu lên, ngực và hai chân trước bấu lấy đỉnh chuông.
Thân chuông chiếm phần chính, được chia làm 4 ô để ghi bài minh nói về cảnh chùa, về giá trị tâm linh của chuông, đồng thời ghi cả tên người công đức và niên đại. Phần dưới của thân chuông kể từ núm gõ trở xuống, chiếm một tỷ lệ nhỏ, chỉ bằng một phần ba thân trên, cũng có khi ghi tên những người công đức, hoặc đúc nổi các hình trang trí tứ linh, đồ bát bửu, hay những trang trí khác.
Dưới cùng là vành chuông loe ra, thường được đúc cánh sen nổi, hoặc những hình trang trí như sóng nước, sóng bạc đầu, quả lôi, cây thiên mệnh…
Chuông thường được chia làm nhiều loại, như “Đại hồng chung”, “Bảo chúng chung”, “Gia trì chung”,...
“Đại hồng chung” là loại chuông lớn và chính của chùa, được đúc bằng đồng xanh pha ít sắt. Loại này treo trong lầu chuông, mục đích thỉnh chuông là để chiêu tập đại chúng hoặc báo thời sớm, tối. Người Việt Nam dùng từ “Ðại hồng chung” chỉ cho loại chuông thật lớn, gần như không còn có quy định, có nơi được tính theo tiếng ngân dài của chuông (Như ở Huế, đánh chuông lên, dùng hai tay dăng ra và gập lại vào ngực gọi là một “sải”, làm như vậy cho đến khi tiếng ngân của chuông chấm dứt, được bao nhiêu lần là chuông lớn bấy nhiêu “sải”).
“Bảo chúng chung” còn gọi là Hoán chung, Tiểu chung, Bán chung, kích thước bằng ½, hình dáng giống như Đại Hồng Chung, thường để một góc trong chánh điện, được treo trên giá và di chuyển dễ dàng, dùng để báo tin trong lúc họp chư tăng biết vào những lúc: Nhóm chúng, thọ trai, giờ chấp tác, giờ bái sám trong các tự viện, báo hiệu cho quý vị Tăng Chúng biết sắp đến giờ hành lễ và sử dụng trong các buổi pháp hội.
“Gia trì chung” là loại chuông dùng để đánh lên trong lúc tụng kinh, bái sám, thường đặt song song với mõ ở chánh điện, trước bàn Phật. Tiếng chuông được sử dụng trước khi tụng kinh hay báo hiệu sắp hết đoạn kinh đang tụng hoặc câu niệm Phật. Cũng thường được đánh lên khi lạy Phật một mình. Còn khi đông người thì để báo hiệu cùng lạy cho nhịp nhàng, đều đặn, hướng người tụng vào một con đường duy nhất là: Chí tâm./.
