CỖ GIỖ
CỖ GIỖ
Cúng giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, được coi là “báo hiếu”, là ngày con cháu tưởng nhớ đến công lao sinh thành, xây nếp đắp móng của các vị tiền hiền và cầu xin vong linh các vị phù hộ độ trì. Các con cháu chuẩn bị một hoặc nhiều mâm cỗ đưa lên bàn thờ gia đình để thực hiện nghi lễ cúng tế người đã khuất.
Cỗ giỗ khác cỗ Tết ở điểm không có những món ăn ngày tết như bánh chưng, bánh dầy, bánh mứt, là những món để lâu vì không họp chợ nghỉ tết và những món ăn kèm thịt mỡ nhiều ngày (3 ngày) như dưa hành, hành cuốn, cá kho, thịt đông…
Cỗ giỗ khác cỗ Tết còn ở chỗ thường làm rất nhiều món và nhộn nhịp đông người họ hàng tham gia nấu nướng hơn. Tết thì nhà nào lo nhà đó, không có chuyện làm giúp và không có bổn phận đến làm đến ăn. Thường gia đình xưa rất đông con, trong đó nữ công gia chánh của người con gái được dạy dỗ từ nhỏ. Chính những bữa giỗ là dịp các con gái, con dâu trổ tài nấu nướng. Mẹ hay chị cả luôn là những người đầu bếp giỏi và là bếp trưởng, những người bếp chủ chốt vẫn là những ai khéo léo và năng động hơn những người khác, được giao việc khó và nhiều hơn. Giỗ kị nhà giàu có thường làm lợn, bò và cả dê. Vì không có trường lớp mà chỉ học trong gia đình, nên mỗi gia đình hay họ tộc có các món khác nhau hoặc cách nấu khác nhau, từ đó các món ăn rất phong phú.
Cỗ giỗ còn khác cỗ tết ở điểm thường có những món mà người chết khi sinh tiền rất ưa thích. Vì những người thân muốn tưởng nhớ đến người đã khuất. Có khi chỉ món thường ngày hay làm như canh bánh đa, món đậu phụ nhồi thịt, món bò tái, canh sấu…

Người Việt có một nếp sống rất đẹp là đám ma, đám giỗ thì tuỳ tâm gia chủ, tổ chức như thế nào do gia đình bàn bạc thống nhất. Các cụ truyền dạy: “Đó là việc hiếu, mọi người đến không phải vì cỗ to, vì miếng ăn, mà là để tưởng nhớ người đã mất, vì họ hàng làng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”. Vì vậy, các đám ma, đám giỗ, không ai buông một lời chê, không có cãi vã, to tiếng, say rượu, cờ bạc... Các cụ rất coi trọng giỗ, chứ không coi trọng cỗ. Ngày giỗ lấy tâm thành là chính chỉ cần “bát cơm, quả trứng” cúng là đủ. Vì vậy, hầu như tất cả các gia đình dù làm giỗ to nhỏ, nhiều ít, mâm cao cỗ đầy như thế nào thì gần cuối buổi lễ đều dâng lên bàn thờ một bát hoặc một liễn cơm và một quả trứng vịt hoặc gà luộc đã bóc vỏ, và bóp vỡ một chút ở chỗ ít lòng trắng và thêm một ít muối bên cạnh.
Thông thường cỗ giỗ bày trên bàn thờ gia tiên, trước hết có một con gà trống chưa đạp mái, xếp cánh tiên, sau khi cúng sẽ xem chân gà để đoán điềm hay dở. Sau đó chặt ra đĩa thịt gà luộc lá chanh. Có nhà chặt ra thành đĩa để cúng chứ không cúng gà luộc để nguyên con.
Người Việt chia giỗ làm hai loại: giỗ trọng và giỗ thường. Giỗ trọng là giỗ những người thân mới mất, thường là ông bà, cha mẹ. Còn giỗ thường là giỗ những người ở thế hệ xa hơn: cụ kỵ, chú bác, cô, anh chị... Các cụ vẫn truyền cho con cháu câu: “Ngũ đại mai tiền chi” (năm đời không còn chủ), tức là từ đời thứ 5 trở lên (đời kỵ) các cháu chắt không phải cúng giỗ nữa. Nhưng những ngày tết và những ngày giỗ khác, các vị từ đời thứ năm trở lên vẫn được tiến chủ (người đứng lễ) khấn, mời về "đồng hưởng" cùng vong linh những người đã khuất của gia đình. Người Việt mang truyền thống “uống nước nhớ nguồn" nên hàng năm những vị khai sáng ra một dòng họ - được suy tôn là “khởi tổ” hoặc “thuỷ tổ” - vẫn được chắt chút cúng giỗ ở nhà thờ họ.
Riêng ngày giỗ trọng thì mỗi gia đình tổ chức một khác. Xưa những đám giỗ trọng có hai cách tổ chức gần như là lệ của mỗi làng: Làm mở rộng đối với những giỗ mới, nhất là giỗ đầu (một năm sau ngày mất và giỗ hết (hai năm sau ngày mất, có nhà làm vào ngày thứ 100 sau hai năm gọi là giỗ bỏ tang hay “bỏ trở” - từ sau ngày đó, con cháu không phải để trở). Làm trong phạm vi hẹp (chú bác, anh chị em, con cháu) rượu từ giỗ sau giỗ bỏ tang trở đi. Gia chủ có làm rộng cũng ít người đến.
Về cỗ, tuỳ hoàn cảnh gia đình mà chọn:
- Làm cỗ bình thường: Chỉ có mấy món chế biến từ thịt lợn: luộc, rang, lòng, có thể thêm đĩa giò.
- Làm cỗ to có những món cầu kỳ hơn, thường mỗi mâm có có bốn bát và tám đĩa: Giò, nem, ninh, mọc, nấm, bóng...
Có gia đình khá giả làm cả bò, lợn, gà (hoặc dê) gọi là cỗ tam sinh.
Những giỗ làm theo phạm vi rộng thường 30 mâm, có nhà tới hàng trăm mâm, trong phạm vi hẹp độ 5- 10 mâm (mỗi mâm 6 người).
Trước ngày giỗ độ 10 ngày, ông trưởng (con trai đầu) mời tất cả con trai, con gái của người mất đến họ để thống nhất cách làm giỗ và phân công mỗi người một việc; người mua thực phẩm, người mượn bát đũa, mâm nồi, người dựng rạp… Các người con tự nguyện đóng góp, tùy khả năng và tùy tâm, không bổ bán, không chia đều. Sau khi thống nhất, hai vợ chồng trưởng nam phải đích thân đi mời từng nhà, bởi "Lời chào cao hơn mâm cỗ!"
Cỗ giỗ - Một nét văn hóa Việt!
