CƯỚI HỎI - MỘT SỐ THỦ TỤC ĐẶC BIỆT
CƯỚI HỎI - MỘT SỐ THỦ TỤC ĐẶC BIỆT
Việc cưới hỏi, ngoài những lễ nghi, thủ tục chính không thể thiếu, từ xưa đến nay, tùy theo phong tục, tập quán của từng vùng miền, lại có những thủ tục đặc biệt khác. Để tránh khỏi sai phạm, trật lý, mỗi khi có hôn lễ, người ta thường hỏi kinh nghiệm lẫn nhau và những gia đình thận trọng khi chuẩn bị làm thông gia, người ta đã bàn bạc hỏi thăm cách thức tục lệ của mỗi gia đình, nhất là các gia đình ở khác địa phương.
1. TẾ TƠ HỒNG
Lễ cử hành rất đơn giản. Bàn thờ thiết lập trung thiên nếu đẹp trời, bày lư hương và nến hay đèn, tế vật dùng xôi gà trầu rượu. Gọi là "tế" vì có xướng tế và có đọc chúc, nhưng không có đám cưới nào nhờ tư văn và phường nhạc trợ tế.
Cô dâu và chú rể đứng vào hàng ngang trên chiếu trải, trước hương án, theo lời xướng tế lạy bốn lạy rồi quỳ. Cũng theo lời xướng, một chấp sự đọc rót rượu, một chấp sự đọc văn tế, tân Lang và tân Giai Nhân phục xuống lễ tạ, đứng lên vái ba vái, lui ra. Chỉ tế một tuần rượu nghĩa là không trọng thể như tế ba tuần. Văn tế viết vào giấy hồng đọc xong được dầm vào chậu nước để sẵn trước hương án, không như văn tế thần thánh viết vào giấy trắng và đốt đi. Đọc văn tế chỉ cần người tốt giọng, nếu không biết hết chữ trong bài văn tế đã có người chỉ bảo trước. Các cụ túc nho không coi trọng và không bao giờ chịu nhận làm cái việc vào đọc văn tế, nghĩa là trợ tế cho hai đứa còn ít tuổi, ý rằng trong các đám tế chủ tế là nhân vật chính yếu, các người trợ tế đều là hàng dưới.
Văn tế tơ Hồng mỗi khi mỗi nơi viết một khác không có bắt buộc phải viết theo một hai bài mẫu mực nào. Ở đất văn vật người ta trổ tài văn tế thì làm những bài văn dài lối biền ngẫu đúng thể văn tế, ở đất ít học "nghe hơi nồi chõ" chép được của người, có khi "chữ tác đáng chữ tộ" đem về cũng viết viết đọc đọc, ông Tơ bà Nguyệt có nghe chăng chỉ trời biết. Đại để viết văn tế Tơ Hồng thì không ngoài cái ý tán tụng công đức tác hợp mối duyên lành se dây chỉ thắm của Nguyệt Lão, mong được phù hộ độ trì cho cùng nhau ăn đời ở kiếp, sinh năm đẻ bảy vuông tròn.
Ngày nay, lễ tục này đã bỏ hẳn. Tuy nhiên, trong các đám cưới vẫn có người nhắc nhở như một kỷ niệm vui thời xưa.

2. Lễ hợp cẩn
Tối hôm cưới, khi nhập phòng người chồng lấy cơi trầu tế Tơ Hồng trao cho vợ, rót một chén rượu mỗi người uống một nửa, gọi là lễ "hợp cẩn". Sau đó vợ lạy chồng hai lạy và người chồng đáp lại bằng ba vái để tỏ tình tương kính.
Ngoài ra còn một lễ tục khác nữa cũng cần phải kể đến theo tập quán của người miền Bắc gọi là "sêu". Đúng ra "sêu" là nghĩa vụ của chàng rể sau lễ hỏi và trong thời gian chờ lễ cưới. Lễ hỏi sau khi được tổ chức, chàng trai chính thức là rể chưa cưới, phải có bổ phận đối với nhà gái. Bổn phận này bao gồm phải có "sêu tết" và đôi khi có việc đi làm rể. "Sêu" có nghĩa là mùa nào thức ấy, chàng trai phải mang lễ vật sang biếu bố mẹ vợ chưa cưới. Có nơi tục lệ mỗi tháng một "sêu", nhưng có nơi việc "sêu" chỉ thu hẹp trong bốn kỳ của năm:
"Tháng ba sêu đậu mới với chim ngói,
Tháng năm sêu dưa hấu, ngỗng và gạo nếp,
Tháng tám sêu cốm, hồng,
Tháng mười sêu cam và gạo muối."
Ngoài ra còn có "sêu tết" (ở miền Nam gọi là "đi tết"). Tết gồm có Tết Đoan Ngọ và Tết Nguyên Đán. Thường Tết cũng như "sêu", nhà gái chỉ nhận phân nửa lễ vật chàng trai mang tới. Nếu chàng trai cố năn nỉ, cố xin cha mẹ vợ nhận hết thì ông bà vẫn trả lời: "Thầy đẻ đã nhận lời, nhưng thầy đẻ gởi biếu ông bà đàng trai một nửa".
Ngày nay, ở thôn quê vẫn còn tập quán đi biếu quà cho cha mẹ sau thu hoạch mùa màng với ý nghĩa tỏ lòng thảo ngay của chàng rể và cũng để chứng tỏ tài năng làm ăn của chàng rể. Có khi những quà này có thêm phần của ông bà sui trai. Ở thành thị chuyện "đi tết ông bà già vợ" vẫn luôn được các chàng rễ ý thức hay được nhắc nhở luôn. Nhưng chuyện đi tết này thường được thực hiện nhân dịp lễ Tết Trung Thu và Tết Nguyên Đán. Mặc khác, trong các dịp lễ giỗ, chàng rễ chưa cưới cũng phải đem lễ vật cưới sang nhà gái để bày tỏ lòng thương yêu vợ cùng ý thức bổn phận và chứng tỏ trình độ gia giáo của mình.
Ngày nay, dầu ở thành thị hay thôn quê, các chàng rể vẫn giữ bổn phận của mình
về việc đi tết hay sang nhà vợ trong các dịp giỗ chạp để giữ phong cách người
Việt Nam và họ vẫn tiếp tục làm bổn phận này trong suốt thời gian dài về sau, kể
từ khi đã làm lễ cưới xong. Như thế, những chàng rể ngày nay luôn giữ gìn truyền
thống giáo dục gia đình và vẫn biết ý thức trách nhiệm, bổn phận của mình.
Lễ lại mặt
Hai ngày sau lễ cưới, vợ chồng đưa nhau về thăm cha mẹ vợ với một số lễ vật, tùy
theo tập tục địa phương bên vợ. Xưa lễ này gọi là "Nhị hỷ". Nếu nhà chồng ở cách
xa quá, không về được trong hai ngày thì có thể để bốn ngày sau, gọi là"Tứ hỷ".
Ngày nay, lệ lục vợ chồng mới cưới trở về làm lễ gia tiên này, được giải thích
như là "trở về trình diện, tri ân gia tiên và cha mẹ rằng hôn lễ đã được hoàn
tất tốt đẹp" được gọi là phản bái. Nhưng từ xưa, dân ta cũng gọi là "lễ lại
mặt".
Theo tục lệ, vợ chồng đem lễ chay hoặc lễ mặn về nhà để cúng gia tiên, để trình
bày với gia tiên và cha mẹ, cùng họ hàng việc cưới đã xong xuôi toàn mãn.
Có hủ tục ngày xưa mà người mình noi theo lề thói của người Trung Quốc, nhưng đã sớm bãi bỏ vì đã được xét lại rằng nếu làm như thế thì thiếu nhân cách và thiếu rộng lượng. Đó là chuyện người con gái quay về nhà mình mà nhà chồng gởi theo (cũng có thể gởi riêng trước, ngay ngày hôm sau đêm động phòng) một con heo bị thịt mà mất cả hai tai, do nhà chồng cắt đi, điều này có nghĩa là chứng tỏ cho mọi người bên nhà gái hiểu rằng cô dâu đã bị mất trinh). Đây là một sự bôi xấu chẳng những nhằm vào cô gái mà còn phỉ báng cả dòng họ nhà gái. Trong trường hợp này, những nhà danh giá thời phong kiến xưa trả cô dâu trở về nhà cha mẹ ruột. Người xưa đã sớm chấm dứt hủ tục này, vì quan niệm đạo đức, trinh tiết rộng rãi hơn và có ý thức về tình yêu, hạnh phúc gia đình thực tế hơn.
