HỔ TRONG TÍN NGƯỠNG NGƯỜI VIỆT
HỔ TRONG TÍN NGƯỠNG NGƯỜI VIỆT
Đối với người Việt, Hổ là loài vật linh thiêng, được tôn thờ, sùng bái và gọi một cách trân trọng là “Ông”, “Ngài”, “Cậu”, “Chúa”, trở thành linh vật được thờ cúng ở rất nhiều điện, đền, phủ… trong tín ngưỡng dân gian.
Trong tự nhiên, hổ thuộc nhóm loài dũng mãnh, can trường, hiên ngang nên đã trở thành biểu tượng của sự hùng cường, có sức mạnh vô song.
Hổ có nhiều tên gọi khác nhau, mỗi tên gọi có ý nghĩa nhất định về mặt văn hóa, tâm linh. Trong chữ Hán, chữ “Hổ” (唬) bao gồm bộ khẩu đứng trước chữ “Hổ” có nghĩa dọa, hù, làm cho sợ. Nhắc đến hổ, người ta dễ tưởng tượng ra loài thú dữ ăn thịt sống lớn thứ 3, chỉ sau gấu trắng, gấu nâu. Con người, muông thú chỉ cần nghe thấy tiếng gầm của hổ đã hồn bay phách lạc. Bên cạnh cách gọi phổ biến đó, hổ còn có rất nhiều danh xưng như: cọp, hùm, kễnh, khái, hạm, chúa sơn lâm, mãnh chúa rừng xanh, chúa tể rừng xanh, ông cả cọp, ông ba mươi, ông ba bị…
Tục thờ cúng Thần Hổ của người Việt có nguồn gốc sâu xa từ việc con người phải đối đầu với nhiều loài động vật hung hãn, ghê sợ trong quá trình sinh tồn và phát triển. Tâm lý sợ hãi những loài động vật có quyền uy đã tác động trực tiếp đến việc tôn sùng, lễ bái động vật của con người. Việc phụng thờ Thần Hổ chính là một cách giải tỏa tâm lý, tâm linh. Mặt khác, trong thời kỳ sơ khai, khi trình độ nhận thức của con người còn hạn chế, người ta không thể giải thích được tường tận, thấu đáo nhiều hiện tượng đang diễn ra, vì vậy họ đã đi tìm lời lý giải trong trí tưởng tượng. Cách giải thích nguyên sơ cho rằng, con người được sinh ra từ một loài động vật nào đó, tôn sùng và coi là vật tổ đã được toàn thể cộng đồng chấp nhận. Một vài dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay như họ Hoàng, Lường, Lộc của người Thái coi hổ là vật tổ; họ Lò, Cầm thờ quạ, họ Hà thờ cuốc... Bên cạnh đó, thờ hổ cũng là vật tổ của một số dân tộc như: Khơ mú (Tây Bắc, miền tây Nghệ An), Tà Ôi (vùng núi phía tây miền Trung), Cor (huyện Trà Bồng, Quảng Ngãi)…
Tục thờ Thần Hổ mang nhiều ý nghĩa sâu sắc. Người Việt đã thần thánh hóa vai trò của hổ để tạo biểu tượng sức mạnh cho cộng đồng. Từ việc tôn sùng hổ, người Việt đã coi hổ là vị thần may mắn, đem lại bình an cho cuộc sống. Ngoài việc thờ hổ để cầu sức khỏe, bình an, trong tín ngưỡng tâm linh, người ta còn cầu cho vạn vật sinh sôi nảy nở theo quy luật trời đất bởi từ xưa dân ta đã cho rằng Thần Hổ trấn bốn phương, bốn cõi, có uy quyền trong tay, vạn vật có sinh tồn được hay không là do ngài phán quyết. Việc thờ Thần Hổ còn ngụ ý mong cho gia đình sung túc, mạnh khỏe, hưng thịnh.
Ban thờ Thân Hổ thường đặt dưới ban thờ thần Thổ Công hoặc dưới điện thờ công đồng (trong tín ngưỡng Thờ Mẫu). Ban thờ Thần Hổ thường được bài trí giống như một hang động lớn, có những phiến đá nhấp nhô, tạo thế của hang núi, mang dáng dấp huyền bí. Đây chính là nơi ngự trị của Thần Hổ. Người ta thường thờ tranh hoặc tượng và thường là thờ Ngũ hổ. Nếu thờ một ngài, người phụng thờ phải xem bản mệnh, tìm hiểu căn mệnh hợp ngài hổ nào mới thờ riêng.

Trong ban thờ, cần sắp xếp vị trí theo hướng mà các ngài trấn giữ, tuân theo quy luật Ngũ hành: Hoàng hổ (màu vàng - hành thổ) ở vị trí chính giữa ứng với trung ương chính điện, Thanh hổ (màu xanh - hành mộc) ứng với phương Đông, Bạch hổ (màu trắng - hành kim) ứng với phương Tây, Xích hổ (màu đỏ - hành hỏa) ứng với phương Nam, Hắc hổ (màu xám đen - hành thủy) ứng với phương Bắc. Hình tượng Ngũ hổ trên không chỉ tượng trưng cho ngũ hành với mối quan hệ tương sinh, tương khắc trong vũ trụ mà còn để thể hiện quyền uy của mỗi vị thần trong phép nhà thánh. Trong đó, Hoàng hổ giữ vai trò trưởng trung cung, có nhiều quyền phép, trấn giữ điều lệnh các phương. Ông là vị lãnh chúa cao nhất, thâu tóm mọi uy quyền, quyết định âm phù dương trợ cho dân gian.
Dân gian không có lịch cúng lễ riêng biệt đối với việc phụng thờ Thần Hổ mà đan xen trong các ngày ngày sóc, vọng, ngày lễ, tết…
Đồ lễ dâng cúng thường gồm 5 lễ vật: một miếng thịt lợn vai sống, thái vuông to, khía thành 5 phần mỏng không đứt; 5 quả trứng sống; muối; gạo; một chai rượu. Tuy nhiên, đến nay, việc sắm sửa lễ vật ít nhiều có sự biến đổi vừa đơn giản, vừa phức tạp, do quan niệm của mỗi người. Người thì cho rằng đi lễ thành tâm, có thể dâng hoa quả, trầu cau, bánh kẹo, rượu, chè thuốc… Người cầu kỳ thì chuẩn bị đồ lễ chu đáo, cẩn thận theo đúng sở thích của ngài. Một số khác có quan điểm thực dụng, dâng ngài rất nhiều đồ lễ cao sang, đắt tiền. Bên cạnh đồ lễ, đồ mã cũng được chuẩn bị cầu kỳ, cẩn thận, gồm 5 hình ông hổ được đan từ những thanh nứa, với 5 màu sắc. Đồ mã lễ xong được đem ra hóa để các ngài chứng tâm cho chủ lễ./.
