NGÀY TỐT, NGÀY XẤU – CÓ HAY KHÔNG?
NGÀY TỐT, NGÀY XẤU – CÓ HAY KHÔNG?
Từ xa xưa tới nay, khi làm bất cứ công việc gì hệ trọng như khai trương, xuất hành, động thổ, cất nóc, dựng vợ gả chồng… người Việt ta thường có tục xem ngày kén giờ. Nhiều người không tin vào việc đó nhưng vẫn cứ xem, cứ chọn. Vậy vấn đề đặt ra là, có hay không ngày tốt, ngày xấu?
Ngày tốt, ngày xấu – có hay không, ngay từ thời xưa, các bậc trí giả tranh cãi nhiều vẫn chưa ngã ngũ nên ai tin cứ tin, ai không tin thì tuỳ "Linh tại ngã, bất linh tại ngã" (cho rằng thiêng cũng đã tự mình ra, cho rằng không thiêng, cũng tự mình ra), "Vô sư vô sách, quỉ thần bất trách" (không biết vì không có thầy, không có sách, quỷ thần cũng không trách). Năm 1332, Thuận thánh Bảo từ Hoàng Thái Hậu mất. Con là Thượng Hoàng Minh Tông lúc đó đã nhường ngôi cho con là Hiến Tông. Thượng Hoàng sai các quan chọn ngày chôn cất. Có người tâu rằng: "Chôn năm nay tất hại người tế chủ". Thượng Hoàng hỏi : "Người biết sang năm ta nhất định chết à?". Người ấy trả lời không biết. Thượng Hoàng lại hỏi: "Nếu sang năm trở đi ta chắc chắn không chết thì hoãn việc chôn mẫu hậu cũng được, nếu sang năm ta chết thì lo xong việc chôn cất mẫu hậu chẳng hơn là chết mà chưa lo được việc đó ư? Lễ cát, lễ hung phải chọn ngày là vì coi trọng việc đó thôi, chứ đâu phải câu nệ hoạ phúc như các nhà âm dương". Rốt cuộc, Nhà vua vẫn cho cử hành lễ an táng.
Cho đến nay, chọn ngày lành, kén giờ tốt là một thực tế đang diễn ra phổ biến trong đời sống xã hội hiện nay. Số đông thì quá mê tín, việc lớn, việc nhỏ, việc gì cũng chọn ngày, từ việc mua con lợn, làm cái chuồng gà, cắt tóc cho con, đi khám bệnh... mọi điều may rủi đều đổ lỗi cho việc không chọn ngày, chọn giờ; một số ít thì không tin, bài bác hẳn, cho là gieo rắc mê tín dị đoan; một bộ phận không nhỏ tuy bản thân không tin nhưng chiều ý số đông, làm ngơ để cho vợ con đi tìm thầy lễ, thầy cúng định ngày giờ vì xét thấy không ảnh hưởng gì nhiều, hơn nữa, cũng để tránh tình trạng sau này lỡ xảy ra sự gì không lành lại đổ lỗi cho mình "Báng".
Thực tế, có ngày mọi việc mọi điều đều thành công, nhiều điều may mắn tự nhiên đưa tới; có ngày vất vả sớm chiều mà chẳng được việc gì, còn gặp tai nạn bất ngờ. Theo quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng thì đó là quy luật khách quan, từ mối liên hệ của cặp phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên, trong cái tất nhiên có yếu tố ngẫu nhiên, trong cái ngẫu nhiên cũng có yếu tố tất nhiên.

Đó là theo lý luận triết học, còn theo khoa học, người ta giải thích vấn đề này dựa trên cơ sở nhịp sinh học - đặc điểm của sự sống.
Nghiên cứu mọi cơ thể sống đều thấy hoạt động của chúng không phải lúc nào cũng giống lúc nào, mà có khi mạnh, khi yếu, khi nhanh, khi chậm... Những thay đổi đó nhiều khi xảy ra rất đều đặn và liên tiếp thành chu kỳ, còn gọi là nhịp sinh học: Có nhịp ngày đêm, nhịp tháng (liên quan đến âm lịch) nhịp mùa (xuân, hạ, thu, đông)... Phát hiện ra các nhịp sinh học người ta nhận thấy các quá trình sinh lý trong cơ thể có thể biến đổi theo thời gian. Sự biến cố đó có tính chất chu kỳ và tuần hoàn (lặp đi lặp lại khá đều đặn).
Nghiên cứu về sự chết và tỷ lệ chết của con người, thấy có nhiều biến đổi tuỳ thuộc vào nguyên nhân gây chết, như vào khoảng 3-4 giờ sáng áp suất máu thấp nhất, não được cung cấp lượng máu ít nhất nên người bệnh hay bị chết nhất. Các cơn động kinh thường có giờ. Bệnh nhân hen cũng thườg lên cơn hen về đêm vào khoảng 2-4 giờ sáng (trùng với thời gian bài tiết cóc- ti-cô-ít ra nước tiểu xuống tới mức thấp nhất). Cơn hen về đêm nặng hơn cơn hen ban ngày. Những biến đổi có tính chất chu kỳ hàng năm thì có nguy cơ chết về đau tim cao nhất là vào tháng giêng đối với một số nước ở bán cầu phía Bắc. Cao điểm hàng năm của các vụ tự tử ở bang Min-ne-so-ta cũng như ở Pháp là vào tháng 6.
Mặt khác, trên cơ sở tính toán ảnh hưởng của các yết tố vũ trụ lên trái đất và bằng phương pháp tâm sinh lý học thực nghiệm, người ta đã rút ra kết luận là từ khi ra đời, cuộc sống của mỗi người diễn ra phù hợp với ba chu kỳ riêng biệt: Chu kỳ thể lực: 23 ngày, chu kỳ tình cảm: 28 ngày, chu kỳ chí tuệ: 33 ngày. Mỗi chu kỳ gồm hai bán chu kỳ dương và âm. Bán chu kỳ dương (1/2 số ngày của đầu chu kỳ) được đặc trưng bằng sự tăng cường khả năng lao động, bán chu kỳ âm (1/2 số ngày cuối chu kỳ) thì các hiện tượng đều ngược lại. Cả ba chu kỳ trên đều chuyển tiếp từ bán chu kỳ dương sang bán chu kỳ âm. Ngày trùng với điểm chuyển tiếp này là ngày xấu nhất của mỗi chu kỳ. Thực tế đã chứng minh: Đối với chu kỳ tình cảm là sự vô cảm, đối với chu kỳ trí tuệ, đó là ngày đãng trí, khả năng tư duy kém, đối với chu kỳ thể lực, đó là ngày thường xảy ra tai nạn lao động. Đối với hai chu kỳ, số ngày chuyển tiếp trùng nhau chỉ xảy ra một lần trong một năm. Ngày trùng hợp đó của ba chu kỳ là ngày xấu nhất, có thể coi là ngày "Vận hạn" của mỗi người.
Do vậy, nếu biết ngày, tháng, năm sinh của mỗi người, nhờ máy tính điện tử, người ta có thể dễ dàng xác định được các chu kỳ, điểm chuyển tiếp và sự trùng hợp điểm chuyển tiếp giữa các chu kỳ. Công ty giao thông của Nhật Bản Omi Reilvei đã áp dụng thành tựu vào bảo vệ an toàn giao thông. Họ đã xác định các chu kỳ, các điểm chuyển tiếp giữa các chu kỳ của từng người lái và báo cho lái xe biết trước những "ngày xấu" để họ phòng tránh. Nhờ đó số tai nạn giao thông ở Nhật Bản đã giảm đi rất nhiều, đặc biệt vào đầu năm áp dụng (1969-1970) số tai nạn giao thông đã giảm hản 50%.
Các vấn đề trên đây không phải là "thầy bói nói mò" mà dựa vào một dữ kiện thực tế nhất định. Nó cũng phù hợp với nhận thức về mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố địa vật lý vũ trụ với các quá trình hoạt động chức năng của cơ thể.
Nói tóm lại, “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, khi có việc hệ trọng, cần nhiều người tham dự thì càng thận trọng càng hay, xem ngày, kén giờ là việc nên làm. Nhưng mỗi người một thuyết, mỗi thầy một sách, hơn nữa, trên thực tế thì không có một ngày nào hoàn toàn tốt, cũng không có ngày nào hoàn toàn xấu đối với mọi người, mọi việc, nên, không nên rối rắm, câu lệ quá sẽ dễ dấn đến hỏng việc./.
