PHẬT A-NAN-ĐÀ VÀ CÁCH NHẬN BIẾT QUA HÌNH THÁI TƯỢNG THỜ
PHẬT A-NAN-ĐÀ VÀ CÁCH NHẬN BIẾT QUA HÌNH THÁI TƯỢNG THỜ
A-nan-đà (605-483 trước công nguyên), là anh em chú bác với Đức Phật, vì cha của ông, vua Amitodana là em vua Suddhodana – thân phụ của Đức Phật. A-nan-đà (gọi ngắn là A-nan), dịch nghĩa là Khánh hỉ, Hoan hỉ.
A-nan-đà gia nhập giáo hội hai năm sau ngày thành lập vào lúc 18 tuổi, trở thành thị giả thân cận của Đức Phật. A-nan-đà tham gia Tăng đoàn cùng hai người anh của ông là A-na-luật – vị La hán được xưng tụng là Đệ nhất Thiên nhãn trong hàng Thanh văn của Phật và Đề-bà-đạt-đa - người sau này ly khai khỏi Tăng đoàn.

A-na-đà nổi tiếng với trí nhớ phi thường về những lời Phật dạy, được xem là vị tổ thứ 2 của phái Thiền tông (sau Ca Diếp), cũng là người đầu tiên phát minh ra "áo cà sa" - trang phục thường ngày về sau của các chư tăng, chư ni nhà Phật. Theo kinh sách, A-nan-đà được xem là người rất nhẫn nhục, hết lòng phụng sự đức Phật. A-nan-đà cũng chính là người khám phá và trừ bỏ âm mưu giết Phật của Đề-bà-đạt-đa. Hơn ai hết, A-nan-đà bênh vực cho việc nữ giới được học hỏi giáo pháp, nhờ vậy mà Phật chấp nhận thành lập ni đoàn.
A-nan nhập Niết bàn vào năm 485 trước công nguyên và được tôn xưng là một trong Thập đại đệ tử của Phật Thích-ca Mâu-ni.
Tượng của A-nan-à được diễn tả trong tư thế đứng, nét mặt trẻ hơn Ca Diếp, hai tay chắp trước ngực, mặc áo pháp, được đặt ở bên phải tượng Phật Thích Ca Mâu Ni./.
