TÊN NGƯỜI VIỆT - DANH XƯNG CỦA NHO SĨ
TÊN NGƯỜI VIỆT - DANH XƯNG CỦA NHO SĨ
Con người, bất kỳ ai cũng có một tên riêng của mình. Mỗi giai cấp, tầng lớp lại có những danh xưng riêng khác nhau. Trong bài viết này, Đồ thờ Hải Mạnh đề cập đến danh xưng của người nho sĩ trong xã hội xưa.
1. Tên tự
Tên tự còn gọi là tên chữ, vì người đặt thường lấy chữ của một câu trong sách cổ có ý nghĩa liên quan đến tên húy hay chứa đựng tên húy, nguyên chỉ dành cho con trai đến tuổi đội mũ (20 tuổi), con gái nhận lời gả chồng mới cài trâm và đặt tên tự. Tên tự chỉ những nhà có học sách thánh hiền hay nhà khá giả đặt.
Ví dụ: Nguyễn Bỉnh Khiêm có tên tự là Hanh Phủ do câu trong Kinh Dịch, quẻ Khiêm: Khiêm Hanh, quân tử hữu chung...; Nguyễn Công Trứ tự Tồn Chất nghĩa là "giữ gìn (tồn) cái vốn có ở bên trong (chất) để mình luôn sáng tỏ (trứ)".
2. Tên hiệu
Tên hiệu là tên vốn đặt ra để gọi nhà ở, chỗ ở, nơi đọc sách, viết văn và đôi
khi để thể hiện tâm chí cá nhân. Tên hiệu thường dùng một trong các từ "trai" (nhà
sách); "hiên" (mái nhà); "am" (nhà nhỏ); "đường" (nhà lớn).
Ví dụ: một số nhân vật có tên hiệu như: Nguyễn Trãi hiệu Ức Trai; Nguyễn Công
Trứ hiệu Ngộ Trai; Cao Bá Quát hiệu Cúc Đường... Người ta còn thêm các từ như "thị",
"tử" và "lang" kèm theo tên hiệu như Phan Quốc Quang là Thượng Tân Thị, Ưng Bình
là Thúc Dạ Thi...
3. Biệt hiệu
Biệt hiệu là tên hiệu nói lên một đặc điểm riêng nào đó của một người, chỉ một số ít nho sĩ đặt biệt hiệu sau khi đặt tên tự và tên hiệu. Nho sĩ thường hay dùng địa danh để làm biệt hiệu. Nguyễn Thiếp biệt hiệu La Sơn Phu tử (ông thầy ở huyện La Sơn); Nguyễn Du biệt hiệu Hồng Sơn Liệp hộ (người thợ săn ở núi Hồng Lĩnh); Phạm Quý Thích biệt hiệu Tháo Đường cư sĩ (cư sĩ ẩn mình trong nhà cỏ)...
4. Tên tặng
Tên tặng là tên do vua hoặc người đứng đầu quốc gia ban tặng cho người có tài đức khi còn sống. Mãn Giác thiền sư được Lý Nhân Tông và hoàng hậu yêu mến nên đặt cho tên Hoài Tín; tu sĩ Đồng Kim Cương được vua Trần Nhân Tông ban tặng tên hiệu Thiện Lai, sau đổi thành Pháp Loa; Trần Đại Nghĩa là tên do Hồ Chí Minh tặng cho Phạm Quang Lễ...
5. Tên thụy
Tên thụy của nho sĩ do những người còn sống đặt cho một người đã qua đời, đôi khi có người còn sống tự đặt cho mình và có 2 loại: công thụy và tự thụy. Công thụy là do vua đặt và tư thụy là do con cháu, bà con, bạn bè, môn đệ đặt cho.
Tên thụy thường nhằm để ca tụng tài đức của người quá cố nên còn được gọi là "tên tụng" hay "tụng hiệu", gần giống với "tôn hiệu" và để biểu thị sự tôn kính. Chu Văn An được vua Trần Nghệ Tông đặt cho thụy là Văn Trinh và được học trò tôn hiệu là Tuyết Giang Phu tử./.
