TỤC KỴ HÚY CỦA NGƯỜI VIỆT
TỤC KỴ HÚY CỦA NGƯỜI VIỆT
Kỵ húy hay kiêng húy là cách viết hay đọc trại một từ nào đó do bị kiêng kị trong ngôn ngữ văn tự xã hội tại các nước quân chủ chuyên chế trong khu vực văn hóa chữ Hán, trong đó có Việt Nam.
Theo luật xưa, trong phạm vi quốc gia, mọi thần dân kiêng kị tên húy của vua, không được phép dùng để đặt tên cho con cái trong gia đình, cũng như không được phép dùng trong văn tự hay trong lời nói hàng ngày. Trong phạm vi gia đình, do truyền thống văn hóa, con cái có thể kiêng gọi tên thật ông bà tổ tiên. Trong đời sống xã hội, có thể do mê tín dị đoan mà người dân tránh dùng một chữ nào đó.
1. Nguồn gốc
Tục kỵ húy có nguồn gốc từ Trung Quốc từ rất lâu và ảnh hưởng tới Việt Nam.
Lệnh kiêng húy đầu tiên trong lịch sử được ban hành tháng 6 năm 1232 dưới thời Trần Thái Tông. Vua nhà Trần biện lẽ là ông tổ nhà Trần tên là "Lý" nên ai tên họ là Lý phải đổi tên. Lệnh vua đã ban thì thần dân phải thi hành; và đương nhiên con cháu nhà Lý phải từ bỏ gốc gác họ hàng của mình để được tồn tại. Lệnh kiêng húy do vua ban ra để giữ vẻ uy nghi của ngai vàng, kẻ nào phạm húy sẽ bị tru di tam tộc.
Sang triều Hậu Lê, ngày 20/4/1428 âm lịch, sau khi lên ngôi được 5 ngày, Lê Thái Tổ đã ban bố ngay lệnh kiêng húy rộng rãi nhất lịch sử: Kiêng đến nhiều loại húy: quốc húy (gồm chính húy và thường húy), tên húy, gia tộc kính húy và dân gian húy. Từ đó đến mãi thời nhà Nguyễn, lệnh kiêng húy tiếp tục duy trì, nhiều thời được áp dụng một cách khắt khe. Kỵ húy đã được nâng lên thành Quốc luật, làm thay đổi một phần ngôn ngữ.
2. Phân loại
Kỵ húy, phân loại bao gồm: Quốc húy, dân gian húy, gia húy và thánh nhân húy.
Quốc húy
Quốc húy là việc tránh tên thật của đế vương và tổ tiên của ông ta. Chẳng hạn như vào thời nhà Tần, tên húy của Tần Thủy Hoàng là Chính (政) bị cấm không dùng, nên tháng đầu tiên "chính nguyệt" (政月: tháng hành chính) được đổi thành "chính/chinh nguyệt" (正月: tháng ngay thẳng) rồi sau đó lại đổi thành "đoan nguyệt" (端月: tháng ngay thẳng). Hơn thế nữa, cấm dùng tên tổ tiên của vua chúa tính đến bảy đời về trước. Việc cấm này được luật hóa, những ai phạm húy sẽ bị trừng phạt nặng.
Dân gian húy
Trong dân gian, người ta có thể kiêng tên các vật linh thiêng. Một trường hợp phổ biến là cọp được đổi thành "Ông Ba Mươi", hay lửa đổi thành "Bà Hỏa". Các cư dân miền biển vì kính trọng cá voi xanh, thần hộ mệnh cho người đi biển nên họ không gọi thẳng tên mà dùng tên gọi "Ông Nam Hải" hoặc, Cá Ông. Mỗi khi có cá chết dạt vào bờ, người dân tổ chức tang lễ rất trang trọng và dựng lăng cho cá gọi là Lăng Ông.
Gia húy
Gia húy hoặc tộc húy là việc tránh nói tới hoặc kiêng dùng tên ông bà, cha mẹ trong phạm vi gia đình. Đối với tổ tiên đã khuất, sự kiêng cữ càng được tôn trọng và đặt nặng. Khi đặt tên cho con cái, bố mẹ phải tránh dùng tên của tổ tiên và của những người bề trên trong dòng họ. Trong đời sống hàng ngày, khi gặp những tiếng trùng với tên ông bà, cha mẹ, tổ tiên, thì con cháu phải gọi chệch đi, hoặc tìm một từ đồng nghĩa thay thế. Thậm chí vào thời trước, có những người khi vào nhà ai phải hỏi tên húy để kiêng, hoặc nếu có mừng câu đối cho ai thì cũng phải hỏi trước chủ nhà để xem có chữ gì phạm húy thì bỏ đi.
Thánh nhân húy
Thánh nhân húy là tránh dùng tên của các bậc thánh nhân đời trước. Ví dụ vào đời nhà Kim, người ta tránh dùng tên của Khổng Tử.
3. Phương pháp tránh phạm húy
Để tránh phạm húy, người ta có nhiều cách khác nhau, trong đó, từ xa xưa, người ta thường dùng các phương pháp sau:
- Đổi chữ: Là thay chữ này bằng khác (còn gọi là cải dụng), thông thường là thay một chữ kiêng húy bằng một chữ đồng nghĩa hoặc đồng âm.
- Bỏ chữ: Tức là bỏ trống ô chữ, còn gọi là “không tự”. Ví dụ: Quan Thế Âm được bỏ chữ Thế trong tên húy của Đường Thái Tông là Lý Thế Dân thành Quan Âm.
- Viết biến dạng: Tức là thêm nét hoặc bớt nét (gọi là khuyết bút), dùng chữ dị thể hoặc đảo bộ. Đời nhà Trần quy định về kỵ húy thường là viết bỏ bớt nét hoặc thêm vòng tròn nhỏ kế bên chữ. Đời nhà Lê thường viết thêm trên chữ húy 4 hay 3 nét gãy. Việc bỏ một nét (khuyết nhất bút) thường là nét cuối cùng và được áp dụng đối với khinh húy (chữ húy nhẹ, thường là tên tổ tiên vua).
- Đổi âm đọc: Cách này thường được dùng phổ biến, nhất là tại Việt Nam. Ví dụ: Kiêng âm "Chu" trong húy của Nguyễn Phúc Chu nên đọc thành Phan Châu Trinh; Kiêng âm "Cảnh" trong húy của Nguyễn Phúc Cảnh nên đọc thành "kiểng": cây kiểng.
Xưa, kỵ húy được ghi vào luật pháp các triều đại phong kiến với các hình phạt rất hà khắc, nhất là đối với người phạm quốc húy. Ngày nay, những quy định về kiêng húy không còn hiệu lực nữa, nhưng vì thói quen lâu ngày, hơn nữa, nó dường như đã trở thành một nét văn hóa nên tục này vẫn còn ảnh hưởng ở một số vùng miền trong một số nét sinh hoạt của cuộc sống thường ngày./.
