​Tục thờ Thành hoàng làng của người Việt

​Tục thờ Thành hoàng làng của người Việt

Mien Cao
04/04/2018

Tục thờ Thành hoàng làng của người Việt

Thành hoàng là người có công với dân, với nước, lập làng, dựng ấp hay sáng lập nên một nghề được vua sắc phong. Dân làng, hay phường hội đi lập nghiệp nơi khác cũng xây miếu, đền thờ Thành hoàng quê gốc của mình tại nơi ở mới.

tượng thờ Thành hoàng làng
1. Nguồn gốc
Ban đầu, chỉ những nơi có danh sơn (ngọn núi có tiếng), đại xuyên (sông lớn), người ta mới lập miếu thờ thần sơn xuyên (núi sông) ấy để làm chủ tể (người đứng đầu) cho việc ấm tí một phương rồi đến những bậc trung thần nghĩa sĩ và những người có công lao với nước được triều đình tinh biểu (làm cho thấy rõ công trạng, tiết tháo) được lập đền thờ. Nhưng người Việt tin rằng, đất có Thổ Công, sông có Hà Bá, cảnh thổ nào phải có Thần hoàng ấy nên dân gian lần lần bắt chước nhau, chỗ nào cũng phải thờ một vị để làm chủ tể trong làng mình.
2. Các thứ hạng của Thành hoàng
Theo sách “Việt Nam phong tục” thì mỗi làng phụng sự một vị Thành hoàng; cũng có làng thờ hai, ba vị, có làng thờ năm, bảy vị, gọi chung là Phúc Thần. Phúc Thần có ba hạng:
- Thượng đẳng thần: là những thần danh sơn Đại xuyên và các bậc thiên thần như Đông thiên vương, Sóc thiên vương, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh công chúa... Các vị ấy có sự tích linh dị mà không rõ tung tích ẩn hiện thế nào, nên gọi là Thiên thần.
Thứ nữa là các vị nhân thần như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo... cũng được bao phong làm Thượng đẳng thần. Các vị này có đại công lao với dân với nước, có sự tích công trạng hiển hách và họ tên rõ ràng; lúc mất đi, hoặc bởi nhà vua tinh biểu công trạng mà lập đền thờ hoặc bởi lòng dân nhớ công đức mà thờ.
- Trung đẳng thần: là những vị thần dân làng thờ đã lâu, có họ tên mà không rõ công trạng hoặc là có quan tước mà không rõ họ tên, hoặc là những thần có chút linh vị được vua phong.
- Hạ đẳng thần: do dân xã thờ phụng mà không rõ sự tích nhưng cũng thuộc về bậc chính thần thì triều đình cũng theo lòng dân mà phong cho làm Hạ đẳng thần.
3. Nơi thờ phụng
Đình là nơi thờ phụng Thành hoàng làng và trở thành một biểu tượng văn hoá tâm linh của mỗi người dân đất Việt. Ban đầu, đình chỉ là cơ ngơi để dân làng hội họp, là nơi dành để treo những sắc lệnh và huấn dụ của nhà vua. Để thờ phụng Thành hoàng làng, người ta lập miếu thờ. Rồi theo lệ ngày sóc, ngày vọng, dân làng đến miếu để làm lễ Vấn. Miếu này còn gọi là nghè - nơi gìn giữ sắc thần. Ngày tế lễ, dân làng rước sắc thần từ miếu đến đình để cử hành việc tế lễ, sau đó đưa trở về miếu. Dần dần, để đơn giản hóa, sau, người ta chỉ xây một cái đình lớn, phía ngoài làm nơi hội họp (đình), phía trong là miếu.
4. Ý nghĩa của tục thờ Thành hoàng
Trong tâm thức người Việt, Đức Thành hoàng là vị thần tối linh, bao quát, chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng, bảo vệ, phù hộ cho dân làng. Thần Thành hoàng dù có hay không có họ tên, lai lịch và dù xuất thân bất kỳ từ tầng lớp nào thì cũng là chủ tể trên cõi thiêng của làng và đều mang tính chất chung là “hộ quốc tý dân” (hộ nước giúp dân) ở ngay địa phương đó. Thành hoàng làng đã trở thành một biểu tượng tâm linh, giúp cho mưa thuận gió hòa, cho cuộc sống của người dân ngày càng thịnh vượng.
Cũng giống như việc thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng trước hết mang ý nghĩa hướng về cội nguồn, về quê cha đất tổ; sau đó, nó có ý nghĩa như sợi dây vô hình, giúp dân làng đoàn kết, nếp sống cộng cảm hoà đồng, luật lệ, gia phong của mỗi nhà, lề thói của làng được bảo tồn. Vì lẽ đó, các hương chức cũng như các gia đình trong làng, mỗi khi muốn mở hội hoặc tổ chức việc gì đều phải có lễ cúng Thành hoàng để xin phép trước./.

Pinterest