TỤC VÁI LẠY CỦA NGƯỜI VIỆT KHÁC NGƯỜI HOA THẾ NÀO?
TỤC VÁI LẠY CỦA NGƯỜI VIỆT KHÁC NGƯỜI HOA THẾ NÀO?
Việc vái, lạy trong các tín ngưỡng, tôn giáo nghĩ tưởng đơn giản, nhưng thực tế, không phải ai cũng hiểu hết ý nghĩa và thực hành đúng chuẩn. Từ lâu nay, người Việt chúng ta thường vái, lạy với các số là 1, 2, 3, 4, 5. Ý nghĩa của từng số lần vái, lạy, Đồ thờ Hải Mạnh đã có bài viết " Vái, lạy – Ý nghĩa và cách làm đúng trong nghi thức thờ cúng". Ở đây, chỉ đi sâu nói rõ về sự khác nhau của tục vái, lạy của người Việt và người Hoa. Qua nghiên cứu các tài liệu và hỏi ý kiến của các nhà nghiên cứu, thì điểm khác nhau căn bản là, tục vái lạy tổ tiên của dân tộc ta là thuộc hệ văn hóa tư tưởng hằng số chẵn, còn của người Trung Quốc là nằm trong hệ văn hóa tư tưởng hằng số lẻ.
1. Văn hóa hằng số lẻ của người Hán
Trong thời cổ đại, để xây dựng nền tảng tư tưởng cổ đại của mình, người phương Bắc, trung tâm là người Hoa Hạ lấy vũ trụ làm đối tượng, đặt ra thuyết “Ngũ hành”, lấy Thiên - Địa - Nhân làm điểm xuất phát. Sau đó, tiếp thu thuyết “Kinh dịch” của người Việt Thường ở phương Nam, biểu tượng bằng thanh Âm - thanh Dương biến thiên thành 64 quẻ, dựa vào đó mà lập nên lâu đài Chu dịch nói về triết học phương Đông.
Người Hán coi hằng số lẻ là số sinh, cho nên, trong diễn trình về văn hóa tư
tưởng của người Hán đều quán triệt hằng số lẻ này, ví dụ:
Hằng số 3 (thiên - địa - nhân) là hằng số diệu kỳ, may mắn nhất trong đời của
người Trung Quốc. Ai may mắn gặp con số 3 thì phú quý, vinh hiển sẽ đến. Vì thế,
hằng số 3 được lấy làm tiêu chí trong việc quy nạp các thiết chế văn hóa tâm
linh của vương quyền và phong tục, tập quán của xã hội, như: Cỗ ẩm thực 3 món,
cỗ lớn nhất gọi là cỗ thái lao gồm có 3 món: thịt bò, thịt dê, thịt lợn. Cỗ thái
lao vua dùng để tế cúng ở Thái miếu, hoặc đãi sứ thần; 3 chức quan trong pháp
chế nhà Tần: quan thú coi về chính trị, quan úy coi về quân sự, quan giám coi về
hậu cần; Cố vấn 3 người gọi là tam lão ở trong mỗi làng; Quân đội có tổ tam chế,
3 người; 3 học trò giỏi của Khổng Tử: Tử Du, Tử Hạ, Nhan Hồi; 3 nước lớn thời cổ:
Tề, Sở, Triệu; 3 tướng tài đời Hán: Giáng Hầu, Chu Bột, Quách Anh.
Hằng số 5 là 5 nguyên tố tạo nên vũ trụ, cho nên có thuyết ngũ hành. Vì thế số 5
được lấy làm tiêu chí để quy nạp các hằng số văn hóa, như: 5 vị vua làm bá chủ
chư hầu đời Xuân Thu: Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công,Tống Tương Công, Tần Mục Công,
Sở Trang Vương; 5 cung hình phạt: khắc vào mặt, xẻo mũi, cắt dương vật, chặt
chân và chặt đầu; 5 âm thanh trong âm nhạc, gọi là ngũ cung: cung, thương, dốc,
chủy, vũ.
Do vậy, tục vái, lạy của người Hoa là theo hằng số lẻ: 1, 3, 5. Sách Chu lễ ghi: Đứng trước bài vị thì vái 1 cái và lạy 9 lạy, lễ xong đứng dậy vái 1 vái rồi lui ra (số 9 lạy này về sau chỉ lạy 3 lạy, còn 1 vái vẫn giữ nguyên). Số lạy 3 lạy 1 vái này, được thực hiện trong các trường hợp: lạy người quá cố, bề tôi lạy vua và khi vua băng hà thì hoàng gia và quần thần cũng lạy 3 lạy 1 vái, hoặc nhà vua vái lạy ở Thái miếu và ở các tư gia vái lạy gia tiên cũng thực hiện như thế. Trong lễ tân hôn, phu thê thực hiện tiến trình hành lễ: 1 lạy thiên địa, 1 lạy tông đường, 1 lạy giao bái phu thê.
2. Văn hóa hằng số chẵn của người Việt
Người phương Nam, trung tâm là người Giao Chỉ, lấy con người làm đối tượng đặt ra thuyết sinh học, lấy nguyên khí nõ nường làm điểm xuất phát, biểu tượng bằng quả trứng - người mẹ. Quả trứng thụ tinh có hai đường máu, phát triển theo hai hướng. Dựa vào các hình thái phát triển vòng đời của mỗi hướng đó mà tạo nên vật hèm Hùng Linh Ngọc Lũ hàm nghĩa biểu tượng ghi lại bản sử thi về lịch sử của dân tộc gửi bạn bè gần xa đương thời và tryền lại cho muôn đời hậu thế.

Người Việt coi hằng số lẻ là hằng số chết, nhất là số 3 và số 5. Do đó, người Việt kiêng số 3 như không đứng chụp ảnh 3 người, hoặc câu ca “chớ đi ngày 7 chớ về ngày 3” (Ở đây, phải chăng là ngày 5 chứ không phải ngày 7, nhưng ngày 5 thì không đạt vần điệu của thơ). Dù vậy, 7 cũng là số lẻ. Còn số 1, số 3 và số 5 như thắp hương và mâm ngũ quả là cúng cho tổ tiên, còn bát cơm đôi đũa bông cúng người mới chết, các hiện vật đều là xếp theo đôi.
Người Việt quan niệm hằng số chẵn là hằng số của sự sống sinh sôi như hai chất nguyên khí của nam nữ. Quan niệm đó in đậm trong tiềm thức và thể hiện trong hằng số văn hóa tư tưởng và phong tục tập quán của xã hội, như: Đôi thỏi đá cầm tay; Đôi rắn: ông Cụt ông Dài, đồ vật có: vật đực, vật cái; Trang phục: có áo kép, áo tứ thân hai màu, hoặc áo nối vai (trên trắng dưới nâu); Tứ trụ triều đình 4 bộ: bộ binh, bộ lễ, bộ hộ, bộ hình; Tứ mẫu của người Việt, tứ phủ, tứ trấn ở Hà Nội; 4 vai trong làng: ông lý, ông đồ, ông trùm, ông hương; 4 cấp học vị: tú tài, cử nhân, phó bảng, tiến sĩ; 4 người hiền tài đời Lý: Từ Đạo Hạnh, Khuông Lộ, Mẫn Giác, Lư Ân; 4 kiểu khám bệnh của Đông y: vọng, văn, vấn, thiết; 4 tiêu chí trong sản xuất ngày nay: ruộng, vường, ao, chuồng, hoặc nhà, hiên, sân, vườn.
Theo đó, tục vái lạy của người Việt là theo hằng số chẵn. Sách "Đại Việt sử ký toàn thư” nhà Trần, đời vua Trần Thái Tông (1226-1258) trong lễ Minh thệ ở đền thần Đồng Cổ hàng năm vào ngày 4-4 có đoạn ghi: "Tể tướng và trăm quan đến trực trước cửa thành từ lúc gà gáy, tờ mờ sáng thì tiến vào triều. Vua ngự ở cửa Hữu Lang điện Đại Minh, trăm quan mặc nhung phục lạy 2 lạy rồi lui ra. Ai nấy đều thành đội ngũ nghi trượng theo hầu ra cửa Tây thành, đến đền thờ thần núi Đồng Cổ".
Như vậy, con lạy cha mẹ, ông bà khi còn sống là 2 lạy. Lạy người mới chết cũng 2 lạy, coi như người còn sống. Sách “Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính ghi: "Từ lúc ma còn để trong nhà thì con cháu và khách khứa phúng điếu thì chỉ lạy 2 lạy nghĩa là coi như người còn sống. Đến lúc hạ huyệt rồi thì mới lạy 4 lạy, nghĩa là đến đó mới lấy đạo thờ người chết mà thờ".
Do đó, nhà vua lạy Tiên đế ở Thái miếu cũng 4 lạy. “Đại Việt sử ký toàn thư” ghi: "Ngày Mậu Thân là lễ kế thiên thánh tiết. Hôm ấy, buổi sáng vua (Lê Thái Tông 1434-1442) bái yết Thái miếu, làm lễ 4 lạy. Khi về cung, Lỗ bộ ty bày nghi trượng ở Đan Trì".
Như vậy, nghi lễ vái lạy: lạy cha mẹ, người mới chết là 2 lạy, trước khi lạy, đứng vái 2 vái rồi mới lạy 2 lạy (tư thế lạy, người rạp xuống đất), lạy xong thì đứng dậy vái 2 vái rồi lui ra (giật lùi); khách đến cúng điếu, cũng tiến hành như thế (trưởng nam đứng cạnh quan tài vái theo 2 vái đáp lễ khách). Còn nghi thức lạy trước bàn thờ gia tiên và ở các đền miếu trong lễ hội (các vị trong ban tế) thì vái 2 vái rồi lạy 4 lạy (tư thế lạy, quỳ rạp xuống đất), lạy xong thì vái 2 vái, hoặc 4 vái (vái thì người đứng khom lưng cúi đầu theo tay).
Tóm lại, nét bản sắc văn hóa Việt khác văn hóa Hán. Đó là bản chất. Nó được bắt nguồn từ một quan niệm khởi thủy của nhận thức, rồi được truyền nối, sàng lọc, bổ sung và tích tụ thể hiện trong việc ứng xử của con người đối với thế giới tâm linh siêu hình và tiên tổ, hoặc ứng xử giữa con người với con người trong mối quan hệ của xã hội thực tại. Đó là văn hóa cổ truyền. Nó là cái gốc, điểm tựa trong giao lưu và tiếp biến văn hóa của dân tộc.
Hiện nay, người Việt, trong thực hành tín ngưỡng, tôn giáo vẫn thường vái, lạy theo hằng số lẻ. Đó là hệ quả của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa. Xét cho cùng, thì vái, lạy chỉ là hình thức biểu hiện, quan trọng nhất là cái Tâm của người thực hành tín ngưỡng, tôn giáo./.
