​Ý nghĩa các hình tượng trang trí trên kiến trúc các cơ sở thờ tự của người Việt

​Ý nghĩa các hình tượng trang trí trên kiến trúc các cơ sở thờ tự của người Việt

Thưởng Nguyễn
22/05/2018

Ý nghĩa các hình tượng trang trí phổ biến trên kiến trúc các cơ sở thờ tự của người Việt

Trong các công trình tôn giáo và tín ngưỡng tại Việt Nam, mảng trang trí là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên vẻ đẹp cho công trình. Hình tượng trang trí rất phong phú, đa dạng. Mỗi một hình tượng mang một ý nghĩa sâu sắc, thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan của người xưa.

1. Các hình tượng trang trí đơn lẻ

Con rồng


 

Đối với các nước phương Đông, con rồng là kiệt tác sáng tạo nghệ thuật có lịch sử lâu đời. Trên thực tế, rồng chỉ là sản phẩm của nghệ thuật. Nó không tồn tại trong thế giới tự nhiên. Rồng mang trong mình ý nghĩa về sự trí tuệ, tín ngưỡng, niềm tin, lý tưởng, nguyện vọng, sức mạnh…, là biểu tượng cao quý và sức sống vĩnh hằng, có ảnh hưởng to lớn, ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống xã hội.
Đối với dân tộc Việt Nam, ngoài nét chung nói trên, rồng còn có ý nghĩa riêng. Nó mang hàm nghĩa dân tộc Việt Nam có xuất xứ từ con Rồng cháu Tiên: Hà Nội là Thủ đô cả nước, với tên gọi đầu tiên Thăng Long (rồng bay); vùng Đông Bắc nước ta có Hạ Long (rồng hạ) - một trong những thắng cảnh đẹp nhất nước; đồng bằng Nam Bộ phì nhiêu được tạo nên bởi dòng sông mang tên Cửu Long (chín rồng).
Không những là biểu tượng cho xuất xứ nòi giống dân tộc Việt Nam, rồng còn là thần linh, chủ của nguồn nước, mang lại sức sống mãnh liệt, làm cho mùa màng tốt tươi. Rồng là biểu tượng của sức mạnh. Do vậy, các vua chúa đã lấy hình tượng rồng đại diện cho uy quyền. Rồng luôn là hình ảnh sâu đậm trong tâm hồn mỗi người Việt Nam, được sử dụng phổ biến trong kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng theo một số nét đặc trưng: mắt quỷ, sừng nai, tai thú, trán lạc đà, miệng lang, cổ rắn, vảy cá chép, chân cá sấu, móng chim ưng…

Con Lân

Hình tượng con lân

Hình tượng con Lân trong kiến trúc cổ truyền Việt Nam.

Được gọi đầy đủ là kỳ lân (hay con ly, con sấu). Hình tượng con Lân được định hình từ thời Lý và phát triển cho đến suốt thời Nguyễn. Kỳ lân là phát triển của long mã, biểu tượng cho sự kết hợp thời gian và không gian, cho sự an bình. Thường được trang trí trên cấu kiện gỗ, thành bậc, tượng tròn.

Con Rùa

Rùa tượng trưng cho sự trường tồn và bất diệt. Dáng rùa đầu to, mập, vươn ra khỏi mai, mõm thuôn nhọn, mắt nhỏ, bốn chân khép sát vào thân mai. 82 tấm bia đã ghi tên tiến sĩ đỗ đạt được đặt trên lưng rùa, một con vật biểu hiện sự trường tồn, hiện còn lưu giữ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám - Hà Nội là minh chứng sinh động biểu hiện nền văn hiến bất diệt của dân tộc Việt Nam.

Chim Phượng


 

Theo quan niệm của người Việt, Phượng là loài chim đẹp nhất trong các loài chim. Nó có thân hình quyến rũ, kết tinh được sự mềm mại, thanh lịch, duyên dáng của tất cả các loài chim. Chim Phượng xuất hiện báo hiệu đất nước được thái bình.
Phượng là linh vật tượng trưng cho tầng trên. Phượng thường có mỏ vẹt, thân chim, cổ rắn, đuôi công, móng chim cứng đứng trên hồ sen. Với ý nghĩa đầu đội công lý, mắt là mặt trời, mặt trǎng, lưng cõng bầu trời, lông là cây cỏ, cánh là gió, đuôi là tinh tú, chân là đất, Phượng tượng trưng cho cả vũ trụ. Khi Phượng ngậm lá đề hoặc ngậm cành hoa đứng trên đài sen, nó biểu hiện là con chim của đất Phật, tức là có khả nǎng giảng về đạo pháp.

Chim Hạc


 

Ở Việt Nam, hạc là con vật của Đạo giáo. Hình ảnh hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm – dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao. Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn rất thân nhau. Rùa tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến vùng có nước. Điều này nói lên lòng chung thuỷ và sự tương trợ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.

Sư tử

Là đề tài trang trí phổ biến ở thời Lý hơn các thời sau này. Sư tử hí cầu có ý nghĩa như vật bảo vệ giáo pháp. Có thể gặp tượng sư tử ở chùa Hương Lãng, bệ có 2 con sư tử đỡ ở chùa Bà Tấm. Các chòm lông và đuôi sư tử thường xoắn lại theo kiểu trôn ốc hoặc xoè ra.

Con hổ


 

Theo quan niệm dân gian, hổ tượng trưng cho vị thần bảo vệ, trấn giữ các phương chống lại mọi tà ma, đảm bảo cho cuộc sống phát triển. Có thể gặp tượng hổ ở bệ đá tam bảo, chạm khắc trên kẻ, hai bên tam quan.

Con cá

Tượng trưng cho sự giàu có, phồn thịnh, thường hay gặp trong trang trí cấu kiện gỗ cùng sóng nước.

Hoa sen

 

Biểu hiện cho sự trong sạch, thanh cao, thanh tịnh của Phật giáo. Từ thời Lý đã sử dụng hoa sen trong biểu tượng chùa Một Cột, bệ tượng Phật A Di Ðà chùa Phật Tích. Hoa sen thường thấy trang trí ở đỉnh tháp, chân tảng, bệ Phật, diềm bia.

Hoa cúc

 

Lúc đầu hoa cúc phổ biến ở Trung Quốc với biểu trưng Ðạo giáo, về sau ảnh hưởng vào Phật giáo như một biểu tượng bình dị, thanh cao, kín đáo và lâu bền.

Lá đề

 

Cây Bồ đề biểu trưng cho sự đại giác của Đức Phật, được sử dụng rất nhiều trong trang trí điêu khắc như vòm cửa chùa, tháp.

Bánh xe pháp luân

 

Biểu tượng sự giác ngộ của Ðức Phật và lần thuyết pháp đầu tiên của ngài. Được sử dụng từ thời Nguyễn đến nay trên mái các công trình thờ tự.

Hồi văn chữ Vạn, chữ công

Thường thấy trên bờ nóc mái, diềm bia, chạm trổ cửa.

Chữ Thọ, chữ Hỉ

Thường sử dụng trang trí ở cửa sổ, cửa đi cách điệu.

2. Các mô típ trang trí thường gặp và đề tài trang trí phức hợp

Lưỡng long triều nhật (hoặc lưỡng long chầu nguyệt)

Đã được sử dụng và phát triển từ thời Nguyễn về sau. Rồng chầu hoa cúc, hoa hướng dương đều là các dạng của “Lưỡng long triều nhật” với ý nghĩa cầu trời mưa, mùa màng tươi tốt… Hoa cúc và hoa hướng dương cũng được sử dụng tượng trưng cho mặt trời (nhật dương).

 

Cá hoá rồng

 

Hình cá hóa rồng thường gặp thời Nho học thịnh đạt (Hậu Lê, Nguyễn) gợi nhớ đến sự đỗ đạt trong các kỳ thi và được Vua phong chức tước. Ðây là một minh chứng cho việc ảnh hưởng sâu sắc của trang trí đề tài Nho học vào Phật giáo.

Rồng hoá lá, rồng hoá cây…

Rồng thường thấy trong mô típ trang trí này là rồng hoá lá, rồng hoá cây hoặc cây hoá rồng, dây lá hoá rồng.

Ngư long hí thuỷ

Rồng và cá chép vờn nhau trong sóng nước. Mô típ này xuất hiện khá phổ biến trong trang trí đình chùa Bắc Bộ.

Phúc khánh, Phúc thọ, Ngũ phúc

Hình con dơi ngậm chiếc khánh có tua có nghĩa là hạnh phúc và sung sướng. Hình con dơi kết hợp với chữ Thọ biểu tượng cho sự hạnh phúc và trường thọ. Năm con dơi trên một bức chạm tượng trưng cho sự chúc tụng hạnh phúc đầy đủ nhất (Ngũ phúc).

Bát bảo

Gồm bầu, tháp bút, quạt vả, ống tiêu, giỏ hoa, cây kiếm, khánh, phất trần. Là các trang trí mang tính chất Ðạo giáo, đôi lúc được sử dụng trong trang trí một số công trình chùa chịu ảnh hưởng nhiều từ Trung Quốc như chùa Hoa, chùa do người gốc Hoa xây dựng…

Bát quả

Bát quả gồm đào, lựu, mận, lê, phật thủ, nho, bầu, bí.

Tứ quý

Gồm mai lan cúc trúc. Thường gặp ở dạng kết hợp mai điểu, mai hạc, lan điệp, cúc điệp, trúc tước, trúc yến hoặc trúc hổ.

Tứ thời

Tứ thời gồm mai, sen, cúc, tùng. Ðồ án dạng kết hợp là mai điểu, liên áp, cúc điệp, tùng lộc hay tùng hạc. Thường thấytrong trang trí chạm khắc ở các chi tiết kiến trúc như cửa võng, cánh cửa…

Hoa sen kết hợp với hoa cúc

Xuất hiện từ thời Lý, tượng trưng cho âm dương giao hoà. Thường gặp ở trang trí diềm bia, chạm khắc trên tháp cổ.

Mây trời, sóng nước

Xuất hiện từ thời Lý, Trần. Thường gặp ở trang trí hoa văn tháp cổ, bệ tượng Phật thời Lý.

Pinterest