Cúng giỗ - Một phong tục đẹp của người Việt
Cúng giỗ - Một phong tục đẹp của người Việt
Cúng giỗ là một trong những phong tục lâu đời của người Việt, một nét đẹp văn hóa thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của nhân dân ta. Cúng giỗ được coi là việc báo hiếu, là ngày con cháu tưởng nhớ đến công lao sinh thành, xây nền đắp móng của các bậc tổ tiên, và cũng là để cầu xin vong linh các bậc tiền bối phù hộ độ trì cho con cháu, cho gia đình, dòng họ.
Ngày giỗ còn gọi là húy nhật hay kỵ nhật, là ngày mất của một người tính theo lịch âm, là dịp để con cháu và người thân hàng năm tổ chức cúng cơm tưởng nhớ đến người đã khuất, đồng thời cùng nhau gặp mặt, nhận họ nhận hàng và bàn bạc những công việc chung của gia đình, dòng họ.

1. Cúng giỗ mấy đời?
Theo tục lệ "Ngũ đại mai thần chủ" thì hết 5 đời sẽ tống giỗ. Năm đời là tính cả người chấp sự nên thực chất chỉ có 4 đời (cha mẹ, ông bà, cụ và kỵ). Cao hơn kỵ gọi chung là tiên tổ, thì không cúng giỗ nữa, mà rước chung tất cả vào nhà thờ họ để khấn chung với cộng đồng gia tiên trong các dịp giỗ chạp, tết lễ.
Trong tục lệ cúng giỗ, căn cứ thời gian qua đời của người quá cố, người ta lưu ý đến 3 ngày giỗ với những nghi thức khác nhau, đó là: Giỗ đầu, giỗ hết và giỗ thường.
- Giỗ đầu (Lễ tiểu tường) là ngày giỗ đầu tiên, tổ chức sau ngày người mất đúng một năm.
- Giỗ hết (Lễ đại tường) là ngày giỗ sau ngày người mất hai năm. Đây được cho là ngày giỗ quan trọng nhất trong tất cả những ngày giỗ đối với người qua đời nên giỗ hết thường được tổ chức long trọng.
Sau giỗ hết 3 tháng, người ta làm lễ đoạn tang (còn gọi là lễ đàm tế hay lễ trừ phục) là lễ bỏ hết mọi đồ tang phục. Sau lễ này, người đang sống sẽ trở lại cuộc sống thường nhật, có thể tham gia các tổ chức hội hè, đình đám, vui chơi; người vợ có chồng chết có thể đi bước nữa. Giỗ thường (ngày cát kỵ) là ngày giỗ sau ngày người mất từ 3 năm trở đi.
2. Một kỳ giỗ có mấy lễ?
Trong một kỳ giỗ, người ta thường tiến hành 2 lễ quan trọng là lễ Tiên thường và lễ Chính kỵ.
- Lễ Tiên thường (ngày cúng cáo giỗ) là cúng trước ngày người quá cố qua đời. Trong ngày này, con cháu cáo giỗ để mời người đã khuất hôm sau về hưởng giỗ, xin phép Thổ công cho vong hồn người quá cố và gia tiên nội ngoại về hưởng giỗ cùng cháu con.
- Lễ Chính kỵ (chính giỗ) là ngày mất của người quá cố. Tùy theo điều kiện từng gia đình, lễ Chính kỵ có thể được tổ chức quy mô to nhỏ khác nhau, nhưng một điều quan trọng là trên bàn thờ phải có bát cơm úp và một quả trứng luộc kèm gia vị với ý nghĩa thể hiện sợi dây tình cảm giữa người đang sống và người quá cố.
3.Thủ tục góp giỗ
Theo tục lệ, con trai trưởng là người chịu trách nhiệm lo cúng giỗ bố mẹ. Đến ngày giỗ, con cháu sẽ tập trung ở nhà ông trưởng để làm giỗ. Trường hợp con trai trưởng mất thì tổ chức tại nhà cháu đích tôn. Con gái và con trai thứ chịu trách nhiệm góp giỗ cho con trai trưởng. Các cháu, chắt cũng là những người đóng góp thêm để giảm bớt gánh nặng chi phí cho trưởng chi hay trưởng tộc. Lễ gửi góp giỗ lớn hay nhỏ tùy thuộc vào hoàn cảnh và mối quan hệ với người chết của từng gia đình, thường là tiền, gạo và các đồ lễ vật khác như: vàng hương, trái cây, bánh kẹo...
4. Tục cúng hậu
Cúng hậu là hình thức cúng ruộng, tiền, vàng bạc, đồ thờ... cho làng hoặc cho đình, chùa… để được cúng giỗ lâu dài sau khi mất. Thông thường, người nào có tiền, có của mà không có con trai nối dõi, phụng thờ thì ngoài việc lập người kế tự giữ gìn hương hoả, người ta còn cúng hậu.
Cúng giỗ là một phong tục đẹp của cha ông ta. Mặc dù ngày nay có một số thay đổi về nghi thức, song nó vẫn luôn giữ được bản sắc văn hóa riêng của người Việt, cần được phát huy và vận dụng tốt hơn, phù hợp hơn với cuộc sống hiện đại./.
(Nguồn : sưu tầm)
